Trang nhất » Tin Tức » Chuyên đề

Một số biên pháp tu từ trong Tiếng Việt

Thứ hai - 17/07/2017 16:49

Một số biên pháp tu từ trong Tiếng Việt

Bài 2:

MỘT SỐ  BIỆN PHÁP TU TỪ THƯỜNG GẶP

I/ Khái niệm về biện pháp tu từ :

Khi nói và viết, ngoài những cách sử dụng ngôn ngữ thông thường còn có thể sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt gọi là biện pháp tu từ. Biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một ngữ cảnh cụ thể nhằm mục đích tạo ra ấn tượng về một hình ảnh, cảm xúc, thái độ...
Sử dụng BPTT đúng sẽ tạo nên những giá trị đặc biệt trong biểu đạt và biểu cảm.

II/Một số BPTT thường gặp :

Trong tiếng Việt, các BPTT rất phong phú đa dạng. Do khả năng trong biểu đạt và biểu cảm nên các BPTT được chú trọng sử dụng trong những văn bản nghệ thuật
BPTT KHÁI NIỆM - TÁC DỤNG VÍ DỤ
So sánh So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng thêm sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt + Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo.
+Công cha như núi Thái Sơn…
Nhân hóa Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, đồ vật, cây cối… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người, làm cho thế giới loài vật, đồ vật, cây cối … trở nên sinh động, gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người. + Ông trời/ Mặc áo giáp đen…
+ Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù…
+ Trâu ơi ta bảo trâu này…
Ẩn dụ Là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên của sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. +Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/ Thấy một Mặt trời trong lăng rất đỏ
+ Ngoài thềm rơi chiếc lá đa/ Tiếng kêu rất mỏng như là rơi nghiêng.
Hoán dụ Là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. + Ngày Huế đổ máu
+ Áo chàm đưa buổ phân li…
 
 
Sử dụng các từ loại
Sử dụng nhiều danh từ: thường để liệt kê , thể hiện sự phong phú, đa dạng của sự vật, sự việc, hiện tượng.. (lấy trong văn bản “Sống chết mặc bay”)
Sử dụng nhiều động từ: nhấn mạnh hoạt động, trạng thái của người, vật Một đoạn trong bài thơ “Lượm”
Sử dụng nhiều tính từ: làm nổi bật đặc điểm, tính chất của vật, của việc… Một số đoạn trong “Cô Tô”
Phép đối Nhấn mạnh sự vật, việc… Một số câu thơ trong “Qua Đèo Ngang”
 
 
 
Điệp ngữ
+ là cách lặp lại từ ngữ (hoặc cả câu)
+ Làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh.
+ các loại: điệp ngữ cách quãng; điệp ngữ nối tiếp; điệp ngữ chuyển tiếp (điệp vòng tròn)
“Tiếng gà trưa”
 
 
 
Chơi chữ
+ Là sự lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước, làm câu văn thêm hấp dẫn thú vị
+Các lối chơi chữ thường gặp:
Dùng từ đồng âm; dùng lối nói trại âm (gần âm); dùng cách điệp âm; dùng lối nói lái; dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.
+ trong thơ văn trào phúng.
+ Câu đố.
 
 
 
Liệt kê
+ Là cách sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ hay cụm từ cùng loại để diễn tả được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay tư tưởng, tình cảm
+ Các kiểu: liệt kê theo cặp và không theo cặp; liệt kê tăng tiến và không tăng tiến.
“Ca huế trên sông Hương”
“Sống chết mặc bay”
 
 
Phép đảo
+ Là cách đảo trật tự từ theo dụng ý của người viết.
+ Để nhấn mạnh ý muốn nói (ý muốn nhấn mạnh thường đảo lên đầu câu)
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
 
 
Câu hỏi tu từ
 
 
+ Hình thức câu giống như câu hỏi: cuối câu có dấu chấm hỏi.
+ Nhưng không đòi hỏi trả lời.+
+ CHTT thường dùng để nhấn mạnh vấn đề, hoặc để bộc lộ tâm trạng
 
 
Lượm ơi, còn không?
Tác dụng của các dấu câu Đặc biệt chú ý dấu chấm hỏi (trong câu hỏi tu từ); dấu chấm than (câu cảm, cầu khiến); dấu chấm lửng (dấu …)  
Vần, nhịp + Là cách gieo vần, cách ngắt nhịp theo dụng ý của người viết. +Thôi rồi. lượm ơi!
+ Lượm ơi, còn không?
Thậm xưng (nói quá, cường điệu, phóng đại) + Nói quá sự thật
+ Gây sự chú ý, nhấn mạnh vấn đề.
+Xấu như ma.
+Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Nói giảm, nói tránh. + Dùng từ đồng nghĩa để giảm đi mức độ của vấn đề.
+ Thường dùng khi đề cập đến chuyện dau buồn, ghê sợ…
+ Chết -> đi, mất
+ Thôi rồi, Lượm ơi!
+ Bác dương thôi đã thôi rồi…
+ xác chết->Tử thi
Hình ảnh ước lệ, tượng trưng + dùng những hình ảnh mang tính quy ước
+ thường gặp trong văn thơ cổ
+Khuôn trăng đầy đặn…
+ Một hai nghiêng nước, nghiêng thành…
+Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
+ Bến Hàm Dương cách Tiêu Tương
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
BÀI 3:
TÌM HIỂU VỀ PHÉP SO SÁNH
I/ PHÉP SO SÁNH:
So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động, làm tăng thêm sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Thế mạnh của so sánh là góp phần gợi ra trong trí tưởng tượng của người đọc những hình ảnh cụ thể, những liên tưởng thú vị, chính xác về đối tượng được nói đến.

II/ PHÂN TÍCH MỘT SỐ VÍ DỤ MINH HỌA:

VD1: Lối so sánh nói chung là tìm mối liên hệ sinh động để cụ thể hóa những cảm xúc và ý nghĩ trừu tượng. Phổ biến nhất là lối liên tưởng từ trừu tượng sang cụ thể, từ thế giới vô hình sanh thế giới hữu hình có thực.
“Thấy bạn mà chẳng thấy chàng
Bâng khuâng như mất lạng vàng trong tay”
Nỗi nhớ tiếc bâng khuâng của người con gái trong trường hợp thấy bạn mà chẳng thấy người yêu là một cái gì rất trừu tượng, khó tả tâm trạng. Thế mà trong câu ca dao, người ta vẫn có cách so sánh để nói ngay lên được một cách khá dễ dàng “như mất lạng vàng trên tay”. Đó là một sự liên tưởng lí thú, sắc sảo, gây được mĩ cảm một cách bất ngờ. “Như mất lạng vàng trên tay là hiện tượng rất cụ thể, rất thực đồng thời cũng diễn tả được nỗi bâng khuâng nhớ tiếc một cái gì quý giá không đền bù được, không lấy lại được.
Còn bài ca dao:

“Bây giờ anh lấy người ta

Như dao cắt ruột em ra làm mười”

Nỗi đau đớn của người đàn bà bị phụ bạc cũng là một điều rất trừu tượng, khó nói vì nó là nỗi đau bên trong của tinh thần, ở đây nó được liên tưởng với nỗi đau tột độ của thể xác: “Như dao cắt ruột em ra làm mười”.

VD2: Phân tích tác dụng của BP so sánh trong bài ca dao:

Công cha như núi ngất trời
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông,
Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!
Người ta vẫn bảo ca dao là “tiếng hát đi từ tim lên miệng”, nó là thơ ca trữ tình dân gian, nó bộc lộ rất tự nhiên nhưng cũng rất sâu sắc tâm hồn tình cảm của người lao động qua các biện pháp tu từ và một trong những biện pháp tu từ đó là so sánh. Bài “Công cha như núi ngất trời” là một ví dụ điển hình để minh chứng cho nhận định trên.
“Công cha như núi ngất trời
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông
Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! ”
Đây là lời ru của mẹ, ru cho con thơ ngủ ngon. Ở bài hát ru này, người xưa đã ví công lao sinh thành nuôi dạy của cha mẹ đối với con cái cao như “núi ngất trời”, rộng như “nước ở ngoài biển Đông”. Đây là một cách ví phổ biến trong ca dao Việt Nam để ca ngợi công lao cha mẹ đối với con cái, như :
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Hay:
“ Ơn cha nặng lắm ai ơi
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”
Nhưng phép so sánh ở bài “Công cha như núi ngất trời” là rất đặc sắc bởi “Công cha” “Nghĩa mẹ” là những ý trừu tường, được so sánh với các hình ảnh cụ thể “núi cao”  “biển rộng”- là những vật mang tầm vũ trụ, là biểu tượng cho sự vĩnh hằng bất diệt của thiên nhiên. NHững hình ảnh ấy được miêu tả bổ sung bằng những từ ngữ chỉ mức độ ước chừng nhưng vô cùng, vô hạn : “núi ngất trời” là núi rất cao, cao vút trời xanh, lẫn vào trong mù mịt mây trời. Biển “mênh mông” là biển rộng đến nỗi không đo đếm được. Một nét vẽ chiều đứng (cao), một nét vẽ chiều ngang (rộng), rất hài hòa cân xứng, tạo một không gian bát ngát, mênh mang, một bức tranh về vũ trụ to lớn, cao rộng không cùng. Đúng là chỉ có hình ảnh ấy mới diễn tả nổi công ơn cha mẹ. “Núi ngất trời” “biển mênh mông” không thể nào đo được cũng như công ơn cha mẹ đối với con cái không thể nào tính đếm được.
Qua nghệ thuật so sánh, dùng từ đặc tả (từ láy, điệp từ), kết hợp với giọng thơ lục bát ngọt ngào đã khẳng định và ca ngợi công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái. Và chính sự đặc sắc trong nghệ thuật dùng từ đã làm cho lời giáo huấn trong bài ca dao không còn khô khan mà trở nên truyền cảm, dễ đi vào lòng người.
 
 
VD3: Nghệ thuật so sánh trong 4 câu thơ đầu “Bài ca Côn Sơn” - Nguyễn Trãi:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.”
Nghe tiếng suối rì rầm,  nhà thơ liên tưởng đến tiếng đàn cầm lúc trầm, lúc bổng, réo rắt bên tai. Nhìn mặt đá phẳng rêu phủ kín nhà thơ mường tượng như mình đang ngồi trên “chiếu êm”. Nghệ thuật so sánh thể hiện trí tưởng tượng phong phú, lãng mạn và sự tài hoa của Nguyễn Trãi. Những vật trong thiên nhiên hoang vu bỗng hóa thành những vật dụng gần gũi, thân thiết của con người. Đôi tai nhạy cảm của thi sĩ đã thổi hồn vào tiếng suối, khiến nó vốn đơn điệu trở thành cây đàn đa thanh, cuốn hút. Xúc giác tinh tế của nhà thơ đã hóa thân cho tảng đá vốn khô cứng thành một mặt chiếu phẳng mịn, dịu êm. Nguyễn Trãi đã biến một vùng núi hoang sơ, vắng vẻ thành một bức tranh thiên nhiên đẹp, sống động để rồi say mê, hào hứng thưởng thức nó. Đoạn thơ không chỉ thể hiện sự tưởng tượng tài tình , mà ẩ hiện trong đó là một con người lạc quan yêu đời tha thiết, sống hòa mình với thiên nhiên.

VD4: Đoạn thơ trong “Truyện Kiều” - Nguyễn Du:

“Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như tiếng thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.”
Những cung bậc âm thanh khác nhau trong tiếng đàn “lầu bậc ngũ âm” của Thúy Kiều được Nguyễn Du miêu tả rất cụ thể qua những so sánh mang tính phát hiện mới mẻ. Nhà thơ đã so sánh độ trong đục, độ nhanh chậm của âm thanh tiếng đàn với những sự vật hiện tượng vừa cụ thể, vừa chính xác.

VD 5: Trong đầm gì đẹp bằng sen

è Cách so sánh để nhấn mạnh, ca ngợi vẻ đẹp có một không hai của sen ở đồng quê: trong đầm không có cái gì đẹp bằng cây hoa sen.
 
 
 
 
 
 
 
BÀI 4:
TÌM HỂU VỀ PHÉP ẨN DỤ
I/ Phép ẩn dụ:
Là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên của sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Ẩn dụ là một biến thể của so sánh hay còn g ọi là so sánh ngầm. Ẩn dụ nhằm làm cho đối tượng được nói đến là vật trở nên dễ hiểu, gần gũi với con người hơn. Khi dùng ẩn dụ, các vế của phép so sánh chỉ còn một sự vật, hiện tượng trạng thái được so sánh và cũng không còn các từ so sánh (như, giống như, tự, tựa như, như là, hơn, kém… Nếu như so sánh có tác dụng tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động , gợi cảm thì ẩn dụ làm cho ý nghĩa của từ ngữ trở nên trừu tượng hơn, sâu xa hơn, và dễ làm rung động lòng người hơn.

II/ Phân tích một số ví dụ:

VD1:          Để thể hiện hình tượng Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, văn học có nhiều cách nói ẩn dụ:
                    Người cha mái tóc bạc
                   Đốt lửa cho anh nằm
                                       (Minh Huệ - Đêm nay Bác không ngủ)
hoặc:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
(Viễn Phương - Viếng lăng Bác)
Ở cách nói đầu, từ những quan sát về hành động, thái độ của Bác trong một đêm chiến dịch giữa rừng Việt Bắc, nhà thơ Minh Huệ đã thốt lên những lời nói cảm động về người: “Người Cha mái tóc bạc”. Cách nói này đã thể hiện được lòng biết ơn, lòng kính yêu sâu sắc của nhà thơ đối với Bác và hơn thế nữa đã góp phần gợi tả một cách sinh động tình cảm, sự chăm sóc ân cần của Bác đối với các chiến sĩ. Bác không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại, mà còn là một người cha già gần gũi, tận tuỵ lo lắng cho giấc ngủ đêm đông của những đứa con. Từ “Người cha” đã xoá đi khoảng cách giữa một vị lãnh tụ với quần chúng khiến hình ảnh Bác càng trở nên gần gũi hơn, thân thương hơn.
Ở cách nói sau, tác giả 2 lần nói đến từ “mặt trời”. nếu như từ “mặt trời” của câu thơ thứ nhất được dùng với nghĩa gốc chỉ mặt trời thật đang toả sáng trên bầu trời, thì “mặt trời” ở câu thơ thứ hai là ẩn dụ để biểu thị cho sự cao đẹp, vĩnh hằng, sự toả sáng từ con người Bác. Bác đang yên nghỉ trong lăng nhưng Bác mãi mãi là ánh sáng kì diệu luôn toả sáng chói lọi và rực rỡ. Sự so sánh lí thú và độc đáo của nhà thơ Viễn Phương xuất phát từ liên tưởng tương đồng về sự toả sáng của hai mặt trời: mặt trời tự nhiên và mặt trời Bác.
 
VD2: Trong bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm có viết:
“Mặt trời của bắp thì nằm lưng đồi
Mặt trời của mẹ con nằm trên lưng”
Tác giả NGuyễn Khoa Điềm đã  2 lần sử dụng từ “mặt trời”. Nếu như “mặt trời ở câu thơ thứ nhất là chỉ mặt trời của thiên nhiên đang toả rạng  ánh  nắng khắp núi rừng, đem lại sự  sống cho muôn loài trên trái đất, thì “mặt trời” ở câu thơ thứ hai là hình ảnh ẩn dụ để chỉ đứa con yêu dấu đang nằm trong địu trên lưng mẹ. Cách nói ẩn dụ này cho thấy, đứa con có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người mẹ dân tộc Tà Ôi, Đứa con trở thành niềm vui, niềm  ạnh phúc, là cuộc sống của mẹ, là niềm động viên an ủi để người mẹ vượt qua những khó khăn vất vả, lao động xây dựng cuộc sống ấm no, xây dựng bản làng.
………………………………………………………………………………..
BÀI 5:
TÌM  HIỂU  VỀ PHÉP NHÂN HOÁ
I/ Phép nhân hoá:
          Nhân hoá là một biến thể của ẩn dụ, nhằm làm cho đối tượng được nói đến (là vật) trở nên dễ hiểu, g ần gũi với con người hơn.
          Ẩn dụ được thực hiện thông qua nhân hoá nên người ta còn gọi là ẩn dụ nhân hoá. Do có chức năng nhận thức và biểu cảm đặc biệt nên ẩn dụ nhân hoá được sử dụng rộng rãi trong các văn bản văn học.
II/ Phân tích một số ví dụ:
 
VD1: “Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động ! Tre, anh hùng chiến đấu!”
          Các từ “anh hùng”, “hi sinh” vốn chỉ dùng cho người, nay được dùng để ca ngợi cây tre. Đây là phép nhân hoá, tác giả Thép Mới đã biến cây tre - vật vô tri vô giác thành một vật mang tính cách giống như con người, làm cho hình ảnh cây tre trở nên sinh động, gợi cảm.
          Nhưng ở đây, thông qua hình ảnh cây tre tác giả muốn ca ngợi những phẩm chất cao quý của người Việt Nam, thì đó lại là phép ẩn dụ. Đây chính là biện pháp ẩn dụ nhân hoá.
VD2: Bài cao dao:
                             “Trâu ơi, ta bảo trâu này
                   Trâu ăn no cỏ trâu cày với ta
                             Cấy cày vốn nghiệp nông gia
                   Ta đây, trâu đấy, ai mà quản công
                             Bao giờ cây luá còn bông
                   Thời còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn. »
          Ở bài ca dao này, nhờ có phép ẩn dụ nhân hoá mà người ta có thể tâm tình, trò chuyện, giãi bày tình cảm với loài vật, với các vật vô tri, vô giác như là người bạn thân thiết, gần gũi. Ở đây con trâu đã được nhân hoá thành một nhân vật trong bài ca dao, biết trò chuyện, biết nghe lời, biết suy nghĩ. Qua cách xưng hô, qua cuộc trò chuyện,  ta thấy người nông dân đã ngầm coi con trâu là người bạn để tâm tình, chia sẻ.
VD3 : Tác phẩm  « Dế mèn phiêu lưu ký” - tác giả Tô Hoài, phép nhân hoá đã làm cho một con vật nhỏ bé, bình dị - con dế mèn - trở thành một « chú bé người » rất sinh động, có những thói quen sinh hoạt, có nhiều trò dại dột, có những nếp nghĩ và tính cách như một cậu bé trai hiếu động, tinh nghịch. Nhưng nhờ phép ẩn dụ mà nhân vật Dế Mèn trở nên có ý nghĩa hơn. Qua hình ảnh Dế Mèn, Tô Hoài ngầm nói đến một lớp người trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ : tuổi trẻ thì nông nổi, mắc nhiều sai lầm,  nhưng khi trưởng thành thì đầy nhiệt huyết, mơ ước về một tương lai tốt đẹp, và quyết tâm phấn đấu thực hiện ước mơ đó. Dế Mèn như một thanh niên đã giác ngộ lí tưởng sống : sống đẹp, sống có ích, biết đấu tranh vì cuộc sống tốt đẹp của cả nhân loại. Tác phẩm còn phản ánh một thời kì lịch sử trước những năm 40 của thế kỉ XX, khi phong trào đấu tranh dân chủ đòi hoà bình đang lên cao, những thanh niên yêu nước tìm đến tổ chức Mặt trận dân chủ Đông Dương để đấu tranh chống chủ nghĩa Phát-xit, đòi chấm dứt chiến tranh.
VD 4 : Trong « Nhớ Rừng”  của Thế Lữ:
                             Gậm một khối hờn trong cũi sắt
                             Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua…
          Với NT nhân hoá Thế Lữ đã biến con hổ thành một nhân vật trữ tình trong bài thơ, nhân vật đó có những nét tính cách giống như con người. Con hổ bị giam cầm trong vườn bách thú, nó như một món đồ chơi hàng ngày nằm dài trong cũi sắt để cho mọi người tới xem. Nó nằm đó nhưng không vô cảm như người ta nghĩ , nó nắm đó mà gậm nhấm mối hờn căm. Con hổ u uất trong lòng vì nó đường đường là một chúa sơn lâm đường hoàng, đĩnh đạc muôn vật nể phục, nay bị bắt, bị nhốt, bị coi là vật trưng bày. Nó đau đáu nhớ về những ngày tự do, oai linh trong rừng thẳm. Tiếc nhớ, khao khát tự do mãnh liệt nhưng bất lực trước hoàn cảnh, nó không còn lối thoát.
          Con Hổ còn là hình ảnh ẩn dụ , Thế Lữ đã mượn lời con hổ ở vườn bách thú để bộc lộ tâm tư, tình cảm của mình. Đó là tâm trạng phẫn uất trước cuộc sống giả dối, tầm thường, bộc lộ niềm khao khát tự do, lòng yêu nước sâu sắc của nhà thơ cũng như của những người dân mất nước.
………………………………………………………………………………..
BÀI 6:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ KHÁC TRONG TIẾNG VIỆT
 
I/ Ước lệ, tượng trưng: đây là một dạng đặc biệt khác của ẩn dụ , hoán dụ. Bản thân chúng được dùng quá nhiều lần trong văn bản nên trở thành phổ biến, quen thuộc, thậm chí đã là những ước lệ của xã hội có ý nghĩa tượng trưng phổ biến.
          Ước lệ, tượng trưng có tác dụng gợi nhiều hơn tả, ý tứ hàm xúc dư ba và rất phù hợp với kiểu “lời ít ý nhiều” hay “ý tại ngôn ngoại”.
VD:
VD1: cụm từ  “Con cò” được nói đến trong nhiều bài ca dao dân ca:
-Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi, ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy sáo măng
Có sáo thì sáo  nước trong
Đừng sáo nước đục đau lòng cò con.
 
- Con cò chết rũ trên cây
Cò con mở lịch xem ngày làm ma
 
-Cái cò lặn lội bờ ao
Hỡi cô yếm đào lấy chú tô chăng..
 
-Cái cò, cái vạc, cái nông
Sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò
Không không tôi đứng trên bờ
Mẹ con nhà vạc đổ ngờ cho tôi
Nói đến hình ảnh con cò là người ta liên tưởng đến những thân phận lầm than, những người nông dân nghèo khổ, quanh năm lam lũ làm ăn.
VD2: Hình ảnh “Bèo dạt mây trôi” là người ta nghĩ đến những số phận lênh đênh vô định nay đây, mai đó.
VD 3: Nói đến “tùng” “trúc” là người ta liên tưởng đến cốt cách của đấng nam nhi
          Cũng như cứ nói đến hoa là người ta liên tưởng đến vẻ đẹp của người con gái
VD 4: Trong “TRuyện Kiều” Nguyễn Du thường hay sử dụng BP ước lệ tượng trưng, như khi miêu tả vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
 
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước, nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.
Cùng sử dụng các từ ngữ ước lệ, tượng trưng để cùng thể hiện ý tứ ca ngợi vẻ đẹp của người con gái. Nhưng mỗi đoạn thơ lại đạt được một hiệu quả thẩm mĩ khác nhau. Vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp đầy đặn, hiền lành, thuỳ mị, ai cũng phải trầm trồ khen ngợi, phải nhường phải thua, là báo hiệu một số phận đầy may mắn. Còn vẻ đẹp của Kiều là cái đẹp mặn mà, sắc sảo, vẻ đẹp làm cho vua chúa cũng phải ngưỡng mộ, khiến ai thấy cũng phải hờn ghen, là báo hiệu một số phận đầy khó khăn và chông gai mà Kiều sắp gặp phải.
VD5: Sử dụng quá nhiều hình ảnh ước lệ tượng trưng trong một đoạn văn bản có thể dẫn đến hiệu quả ngược lại: gây khó hiểu cho người đọc, người nghe do không nắm bắt được các tầng ý nghĩa sâu xa của nó. Nên khi tìm hiểu văn bản, nếu gặp những ước lệ tượng trưng chúng ta phải nhìn nhận ngữ nghĩa của nó trong ngữ cảnh cụ thể của từng văn bản. Bởi vì rất có thể trong mỗi văn bản, các ước lệ, tượng trưng có thể bao hàm những lớp nghĩa sâu xa mà người dùng gửi gắm. Trong “Sau phút chia li” của Đoàn thị Điểm là một ví dụ cho vấn đề này:
Cùng ngó lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp, ai sầu hơn ai?
          Màu xanh là biểu tượng của ước mơ, hy vọng. Nhưng màu xanh ở đây được điệp lại nhiều lần, nhìn đâu cũng chỉ thấy một màu “xanh ngắt”, màu xanh bao trùm cảnh vật,  thì phép điệp ở đây đã biến màu xanh trở thành nỗi thất vọng của người chinh phụ, nỗi buồn và thất vọng tột độ trải khắp không gian rộng lớn núi rừng, trời mây, ruộng đồng... (như chúng ta hi vọng nhiều nhưng không có kết quả thì sẽ trở nên thất vọng, niềm hi vọng càng lớn thì khi thất vọng càng nhiều)
 
II/ Liệt kê:
Là cách sắp xếp nối tiếp hàng loạt từ, cụm từ có cùng một từ loại, hay cùng một chức vụ ngữ pháp.
          Liệt kê có thể được sử dụng với giá trị biểu cảm to lớn vì gây được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
VD1: Để nói đến cái hùng vĩ của sông Đà với biết bao thác ghềnh mà tên gọi nghe rất gợi cảm, Nguyễn Tuân viết:
          “Hãy nghe đây cái âm thanh chào mời đò đưa và cũng rất nhiều hình tượng trong cách nói, cách hò tên non sông đất nước của nhân dân lao động Việt nam gọi những cái thác, những cái ga nước trên sông Đà từ Vạn Yên về xuôi: Thác Ẻn - Thác Giàng - Bãi Chuối - Mó Sách - Bài Lồi- Bãi Lành- Mó Tôm- Mó Nàng- Nánh Kẹp- Quai Chuông- Tà Phù- Bãi Nai- Ba Hòn Gươm- Phố Khủa- Ghềnh Đồng- Suối Bạc- O Gà- Bãi Nhạp- Cánh Cuốn- Mèo Quen- Hang Miếng- Quần Cốc- Suối Trông- Bãi Ban- Diềm- Thác Rút- Thác Mạ- Bãi Thằng Rồ- Mó Tuần- Suối Hoa- Hót Gió- Thác Bờ...
VD2: “Ôm quanh Ba Vì là bát ngát đồng bằng, mênh mông hồ nước với những Suối Hai, Đông Mô, Ao Vua… nổi tiếng vẫy gọi. Mướt mát rừng keo những đảo Hồ, đảo Sến… xanh ngát bạch đàn những đồi Măng, đồi HònRừng  ấu thơ, rừng thanh xuân. Phơi phới mùa hội đua chen của cây cối.”
                             (Võ Văn Trực - Vời vợi Ba Vì)
III/ Biện pháp hoà hợp, biện pháp tương phản, biện pháp đồng nghĩa, trái nghĩa:
          Chương trình phổ thông chưa giới thiệu với các em một số biện pháp tu từ từ vựng thông thường như BP hoà hợp, BP tương phản, BP đồng nghĩa, trái nghĩa.
          Nếu BP hòa hợp có hiệu quả tu từ nhờ vào việc sử dụng các từ ngữ có cùng một tính chất chung hoặc cao quý, trang trọng, hoặc giản dị, mộc mạc, thì biện pháp tương phản có hiệu quả tu từ nhờ vào việc sử dụng các từ ngữ có tính chất trái ngược nhau: các từ ngx cao quý, trang trọng đối chọi với các từ ngữ giản dị, mộc mạc. Trong ngữ cảnh, các từ ngữ này có mối quan hệ phụ tghuộc và quy định lẫn nhau, tạo nên sự cộng hưởng về ý nghĩa, làm xuất hiện một nét nghĩa chung đưa đến một liên tưởng có giá trị tu từ nổi bật. Đoạn thơ sau là một ví dụ về việc sử dụng những từ ngữ có cùng tính chất giản dị , mộc mạc:
Rồi Bác đi dém chăn
Từng người, từng người một
Sợ cháu mình giật thột
Bác nhón chân nhẹ nhàng
Ccái hay của đoạn thơ là sự tái hiện hình ảnh một vị lãnh tụ vĩ đại qua những hành động, cử chỉ rất đời thường trong một đêm chiến dịch giữa núi rừng Việt Bắc. Đoạn thơ có bốn câu kể việc: Bác không ngủ, Bác đi dém chăn cho từng chiến sĩ với những bước chân rất nhẹ nhàng. Nhà thơ Minh Huệ đã khai thác thế mạnh gợi tả, gợi cảm của những từ ngữ đời thường để thể hiện rõ sự chăm sóc chân thành, tận tình, tỉ mỉ của Bác: đi “dém chăn” cho từng người, không sót một ai, lần lượt “từng người, từng người một”. Và đặc biệt là cử chhỉ “nhón chân nhẹ nhàng” vì “sợ cháu mình giật thột” thật bình dị, thân thương của Bác. Trọng lượng của đoạn thơ  được dồn  vào hai từ “dém” và “nhón” - thể hiện hành động tôn trọng, nâng niu và tình yêu thương lớn lao của Bác dành cho các chiến sĩ. Đoạn thơ đã tái hiện chân dung một vị lãnh tụ vĩ đại qua những hành vi cử chỉ rất đời thường, nhẹ nhàng, âu yếm, cẩn trọng. Hành động chăm sóc các chiến sĩ của Bác như người cha đang chăm sóc bầy con nhỏ đã làm xúc động không chỉ nhà thơ mà cả người đọc.
          Trái với các nhân vật chính diện, chân dung nhân vật phản diện thường được miêu tả, tái hiện hoàn toàn khác. Ví dụ ở đoạn thơ tả nhân vật Mã Giám Sinh, Nguyễn Du rất tài tình trong sử dụng các từ có tính chất trái ngược nhau ở cùng một ngữ cảnh. Chân dung của một kẻ buôn gian  bán lận chuyên nghiệp được lột tả qua năm câu thơ:
Quá niên trạc ngoại tứ tuần
Mày rau nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao,
Nhà băng đưa mối dẫn vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng…
          Những từ ngữ trang trọng “quá niên”, “ngoại tứ tuần” , “nhà băng”, “lầu trang” đã góp phần làm tăng thêm sự mơ hồ trong lí lịch, nguồn gốc của tên con buôn trơ trẽn “mày râu nhẵn nhụi”, thô lỗ vô học “ghế trên ngồi tót sỗ sàng” cùng lũ tuỳ tùng ô hợp “trước thầy sau tớ lao xao”. Sự kết hợp sử dựng các từ ngữ có tính chất trái ngược nhau đã góp phần tạo nên những liên tưởng có giá trị tu từ nổi bật, khắc họa rất  rõ nét, rất sinh động không chỉ dáng vẻ bên ngoài mà còn cả bản chất bên trong của nhân vật.
          Gần gũi với hai biện pháp tu từ hòa hợp và tương phản là biện pháp đồng nghĩa – trái nghĩa. Đây cũng là những bieenj pháp tu từ ngữ nghĩa dựa vào việc huy động những từ có cùng tính chất với nhau trong cùng một câu, một đoạn thơ văn nhưng khác ở phương diện là chúng đồng nghĩa hoặc trái nghĩa. Nhờ sự đồng nghĩa hoặc trái nghĩa của từ ngữ mà câu, đoạn có một khả năng biẻu đạt, biểu cảm hiệu quả hơn cách nói thông thường. Biện pháp tu từ này đặc biệt phù hợp với việc muốn nhấn mạnh một điều gì đó mà tránh được sự lặp lại từ ngữ đã dùng, đem lại sự sinh động, gợi hình, gợi cảm cho câu hoặc đoạn văn bản. Ví dụ cách thể hiện của câu ca dao sau:
Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi  đựng trầu
Hai đối tượng được nói đến trong câu ca dao là những đối tượng không chỉ khác nhau mà còn đối lập nhau. Chính vì thế việc sử dụng từ trái nghĩa cùng với so sánh đã đem lại cho câu ca dao một khả năng biểu đạt và biểu cảm tối đa: vừa nêu được đặc điểm của từng đối tượng vừa so sánh khái quát được bản chất đặc thù của mỗi đối tượng. Sự sâu sắc của đàn bà hóa ra lại thua kém rất nhiều sự nông nổi của đàn ông. Hai so sánh không cùng loại đã đem lại sự đánh giá hai đối tượng khác giới trên cùng một bình diện.
          Đồng nghiã thường được sử dụng như một biện pháp nhấn mạnh. Ngô Tất Tố đã thành công khi viết đoạn văn sau:
          Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp… Chị Dậu nghiến hai hàm răng… túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Sức lẻo khoẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điển, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất… Người nhà lí trưởng sấn sổ bước đến giơ gậy chực đánh chị Dậu.
 
III/ Một vài chú ý khi sử dụng các Biện pháp tu từ:
1/ Trong văn bản nghệ thuật, nhiều khi các biện pháp tu từ cùng được dùng trong một ngữ cảnh và tạo nên hiệu quả tu từ đặc biệt. Câu ca dao sau là một ví dụ:
Đôi ta là bạn thong dong
Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng
Bởi chưng thầy mẹ nói ngang
Cho nên đũa ngọc mâm vàng xa nhau
          « đũa ngọc, mâm vàng » ở câu trên là so sánh, ở câu sau là ẩn dụ. Cùng là một từ ngữ, nhưng đũa ngọc mâm vàng » ở câu sau gợi liên tưởng sâu sắc hơn, gợi cảm hơn về một sự oan trái, trớ trêu lẽ ra không nên có.
2/ Khi đọc - hiểu hoặc tạo lập văn bản cần lưu ý:
  • Các BPTT tiếng Việt rất đa dạng phong phú, nếu sử dụng chúng một cách đúng đắn thì sẽ làm tăng sức biểu đạt, biểu cảm cho các văn bản.
  • Trong một văn bản, người viết có thể sử dụng một hoặc nhiều BPTT.
  • Khi phân tích một đoạn hoặc một văn bản nghệ thuật, cần phát hiện được các BPTT, nhưng quan trọng hơn là chỉ ra được vai trò, tác dụng của BP đó trong việc thể hiện nội dung, tư tưởng tác phẩm.
..............................................................................
 
 

Tác giả bài viết: (Sưu tầm)

Nguồn tin: Ban giám hiệu:

 Từ khóa: Biện pháp tu từ

Tổng số điểm của bài viết là: 17 trong 5 đánh giá

Xếp hạng: 3.4 - 5 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây