Trang nhất » Tin Tức » Tin tức - Sự kiện

Tiểu luận tốt nghiệp

Thứ tư - 08/02/2017 10:48

Tiểu luận tốt nghiệp

Bài tiểu luận tốt nghiệp
MỤC LỤC:
 
NỘI DUNG TRANG
Phần  Mở đầu 2-3
         I- Lí do chọn đề tài 2
         II- Phạm vi, giới hạn của đề tài 3
         III- Phương pháp và nhiệm vụ nghiên cứu 3
Phần Nội dung 4 -
          I- Cơ sở lí luận của việc chỉ đạo ứng dụng bản đồ tư duy vào đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử 4 - 7
          II- Thực trạng của việc ứng dụng bản đồ tư duy  vào đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử 7 - 9
          III- Một số giải pháp để Hiệu phó chuyên môn chỉ đạo việc ứng dụng bản đồ tư duy vào đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử
1- Cần đổi mới nhận thức của giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh.
2- Tổ chức tập huấn cho giáo viên và học sinh kĩ năng ứng dụng BĐTDvào dạy học môn Lịch sử.
3- Hiệu phó chuyên môn cần đề xuất với Hiệu Trưởng, với Hiệu phó phụ trách cơ sở vật chất đầu tư cơ sở vật chất  và bố trí nhân lực để phục vụ cho việc ứng dụng BDTD vào dạy học môn Lịch sử.
9 – 26
 
 
9 - 14
 
14 – 25
 
25 - 26
          IV- Ứng dụng cụ thể vào một tiết dạy Lịch sử lớp 6 27 - 38
          V- Kết quả 39 - 46
Phần kết  luận và  khuyến nghị 47 - 48
 
 
 
 
 
 
PHẦN MỞ ĐẦU
I-  LÍ DO CHỌN  ĐỀ TÀI :
  Hiện nay, nước ta đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học với mục tiêu là chống dạy chay, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
 Ngành giáo dục đã mạnh dạn đề ra chủ trương đưa một số phương pháp dạy học tiên tiến vào dạy học trong đó có việc sử dụng Bản đồ tư duy (BĐTD)
 Trong nhà trường phổ thông, việc ứng dụng BĐTD vào dạy học có nhiều ưu thế nổi bật như đưa được hình ảnh minh hoạ làm sinh động giờ học; phát huy được tính sáng tạo , chủ động tích cực của học sinh trong quá trình dạy học, rèn kĩ năng tổng hợp, khái quát kiến thức cơ bản...
     Đối với môn Lịch sử, tôi thấy hiện nay học sinh đa số học “vẹt”, học trước quên sau, kỹ năng tổng hợp, khái quát kiến thức cũng rất kém. Minh chứng rõ nhất cho điều này là kết quả thi Đại học môn Lịch sử năm học 2010-2011 có đến hàng ngàn điểm không (0). Còn trên báo “Dân trí” đăng trên mạng Internet ngày 02/08/ 2011 đã phân tích và chỉ rõ 4 nguyên nhân khiến cho chất lượng môn Lịch sử có “kết quả bi thương”, mà một  nguyên nhân cơ bản đó là do phương pháp giảng dạy “Cách dạy lại vẫn theo điệp khúc: thầy đọc, trò chép”...  Tôi vô cùng trăn trở bởi những nhận xét của dư luận, một câu hỏi đặt ra là làm thế nào để cải thiện được chất lượng của môn Lịch sử? Câu hỏi đó đã hé mở đáp án khi tôi được theo học lớp tập huấn ứng dụng BĐTD vào dạy học. Chính vì thế, với nhiệm vụ và năng lực của mình,  tôi đã chọn đề tài này: “ Hiệu phó chuyên môn chỉ đạo việc ứng dụng bản đồ tư duy vào đổi mới phương pháp  dạy học  môn Lịch sử.”
          Mục tiêu nghiên cứu của tôi trong đề tài này là muốn tìm hiểu thực trạng việc ứng dụng BĐTDvào dạy học môn Lịch sử, đồng thời đưa ra một số giải pháp để chỉ đạo việc ứng dụng BĐTD vào đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường THCS Yên Nghĩa.
 
II-  PHẠM VI, GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI :
  • Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Giáo viên dạy môn Lịch sử và học sinh Trường THCS Yên Nghĩa.
  • Thời gian thực hiện: Đúc rút kinh nghiệm qua nhiều năm giảng dạy và ứng dụng cụ thể vào năm  2011.
  • Nội dung nghiên cứu: Chỉ đạo việc ứng dụng BĐTD vào đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường THCS.
 
III-  PHƯƠNG PHÁP VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
3.1. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận;
- Nghiên cứu thực tiễn;
- Thống kê số liệu, phân tích, so sánh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận và thực tiễn;
- Đưa ra giải pháp;
- Thử nghiệm trong quá trình giảng dạy.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
PHẦN NỘI DUNG
  • CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC CHỈ ĐẠO ỨNG DỤNG BĐTD VÀO ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ.
    1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài:
*Bản đồ tư duy:
Bản đồ tư duy hay còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy (phát minh bởi Tony Buzan - người đạt danh hiệu có trí thông minh sáng tạo cao nhất thế giới), đã được các nhà nghiên cứu khoa học thế giới công nhận là công cụ ghi chú hiệu quả.
Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề… bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết.
Nghĩa của cụm từ Bản đồ tư duy không hiểu theo nghĩa bản đồ thông thường như bản đồ địa lí mà BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết. Đây là một sơ đồ mở, thiết kế theo mạch tư duy của mỗi người, không yêu cầu tỉ lệ, không khắt khe như vẽ bản đồ địa lí.
       *Ứng dụng BĐTD  vào dạy học:
Bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm điều mà do chính mình tự nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình, vì vậy việc sử dụng BĐTD huy động tối đa tiềm năng của bộ não, giúp học sinh học tập một cách tích cực vì cùng một lúc ta sẽ huy động được hoạt động của cả hai bán cầu não, là biện pháp hỗ trợ đổi mới PPDH một cách hiệu quả.
*Đổi mới phương pháp dạy học:
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đã dược đề cập trong rất nhiều nghị quyết của Đảng ta. Trong Nghị quyết TW 4 khoá II (01/1993), Nghị quyết TW 2 khóa III (12/1996), đặc biệt các nghị quyết này đã được thể chế hóa trong luật giáo dục (12/1998).
Đổi mới phương pháp dạy học là trên cơ sở phát huy những mặt mạnh của phương pháp dạy học truyền thống kết hợp với phương pháp dạy học hiện đại nhằm tạo ra một kết quả tốt nhất trong quá trình dạy học. Chính vì vậy, trong Luật Giáo dục, điều 24 có ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
  1. Vai trò của Hiệu phó chuyên môn ở trường THCS:
Hiệu phó chuyên môn là một cán bộ quản lí giáo dục do Ủy ban nhân dân quận (huyện) trực tiếp ra quyết định bổ nhiệm. Trong Điều lệ trường THCS, tại điều 18 có ghi rõ: Theo đề nghị của Trưởng phòng giáo dục và đào tạo (khi nhà trường chưa có Hội đồng trường) và của Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở giới thiệu của Hội đồng trường (khi nhà trường đã có Hội đồng trường), Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp quận huyện hoặc người được ủy quyền ra quyết định bổ nhiệm Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng »
 Cũng trong Điều lệ trường THCS, tại điều 19 có ghi rõ  nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu phó chuyên môn:
“a) Thực hiện và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về nhiệm vụ được Hiệu trưởng phân công.
b) Cùng với Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước cấp trên về phần việc được giao
c) Thay mặt Hiệu trưởng điều hành hoạt động của nhà trường khi được Hiệu trưởng ủy quyền.”
Như vậy, Hiệu phó chuyên môn vừa là người trợ giúp cho Hiệu trưởng, vừa là một trong những cánh chim đầu đàn của trường , luôn giúp đỡ đồng nghiệp tiến bộ, đồng thời là đồng sự, là chỗ dựa của Hiệu trưởng giúp Hiệu trưởng quản lí chuyên môn. Vì vậy người Hiệu phó chuyên môn có một vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động chuyên môn của nhà trường, là người chịu một phần trách nhiệm về chất lượng giảng dạy và lao động sư phạm của giáo viên.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Hiệu phó chuyên môn là quán triệt các phương pháp dạy học mới và áp dụng những kinh nghiệm dạy học có hiệu quả của tất cả  các bộ môn  theo tinh thần thừa kế những điểm tích cực của phương pháp dạy học truyền thống, mạnh dạn áp dụng những phương pháp dạy học mới, cùng với việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả dạy học sao cho phù hợp với điều kiện của nhà trường.
Như vậy, căn cứ vào đó, người Hiệu phó chuyên môn hoàn toàn có quyền và có trách nhiệm chỉ đạo việc ứng dụng BĐTD vào đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử.
  1. Mục tiêu, ý nghĩa và vai trò của việc chỉ đạo ứng dụng BĐTD vào đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử:
- Bài nghiên cứu này muốn giúp các đồng chí là Hiệu phó chuyên môn có thêm một vài kinh nghiệm trong việc chỉ đạo việc ứng dụng BĐTD vào dạy học;
- Giúp giáo viên dạy môn  Lịch sử nhận thấy ý nghĩa, sự cần thiết của việc ứng dụng BĐTD và cung cấp một vài kinh nghiệm ban đầu trong việc ứng dụng BĐTD vào dạy môn Lịch sử;
- Giúp học sinh có hứng thú học tập và thêm yêu thích môn Lịch sử;
- Bài nghiên cứu cũng góp một phần vào thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra.
       4. Yêu cầu cần đạt của vấn đề nghiên cứu:
          Thực hiện đề tài này, tôi mong muốn giáo viên và học sinh sẽ nhận ra Tầm quan trọng của vấn đề ứng dụng BĐTD vào dạy môn Lịch sử;
Nắm được cơ sở lí luận của vấn đề;  
Thực trạng của việc ứng dụng BĐTD vào đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử;
Một số giải pháp chỉ đạo việc ứng dụng BĐTD  vào dạy học môn Lịch sử;
Biết ứng dụng BĐTD một cách có hiệu quả vào giảng dạy một tiết học Lịch sử cụ thể.
 
II- THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ỨNG DỤNG BDTD  CỦA NHÀ TRƯỜNG VÀO ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ:
1. Thuận lợi :
*Về cơ sở vật chất:
 Một số trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học nói chung và cho việc ứng dụng BĐTD nói riêng: từ những phương tiện đơn giản như hệ thống bảng phụ, giấy vẽ, bút màu, phấn màu đến những phương tiện hiện đại như máy tính có cài đặt phần mềm vẽ bản đồ tư duy, nhà trường đều đã trang bị đầy đủ.
* Về trình độ :
+ Về phía giáo viên: Nhà trường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình, có năng lực, luôn có tinh thần học hỏi, tìm tòi đổi mới phương pháp dạy học. 100% đã được tập huấn tin học và tập huấn kĩ năng sử dụng BĐTD vào dạy học.
Đồng chí Hiệu trưởng Trường THCS Yên Nghĩa - Nguyễn Thị Thu Hương-  vốn  thành thạo về vi tính nên rất thuận lợi trong quá trình tập huấn. Kết quả bài thu hoạch của đồng chí được đánh giá cao và đồng chí đã được mời làm thành viên trong đội tập huấn của dự án, tiếp tục đi tập huấn cho các địa phương khác. Khi tôi viết bài khóa luận này, đồng chí Hiệu trưởng đang cùng đoàn công tác tập huấn cho đội ngũ giáo viên tại  huyện Ứng Hòa – TP Hà Nội.  Đó cũng là một sự thuận lợi cho Trường THCS Yên Nghĩa trong quá trình ứng dụng BĐTD vào dạy  học.
+ Về  học sinh: đa số các em chăm ngoan, được học tin học từ lớp 6, được các thầy cô giáo hướng dẫn kĩ năng vẽ BĐTD đối với mỗi môn học và mỗi kiểu bài học.
2. Những khó khăn :
       * Về đội ngũ giáo viên dạy môn Lịch sử:
Nhà trường chỉ có 01 giáo viên có chuyên môn Lịch sử, còn lại là giáo viên dạy chéo môn. Đa số là giáo viên Ngữ văn dạy kèm thêm một vài tiết Lịch sử, cho nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng. Một số lại có tư tưởng cho đây là môn phụ nên cũng không quan tâm nhiều, cốt dạy cho xong.
Một số đồng chí còn hiểu chưa đúng về ứng dụng BĐTD vào dạy học, các đồng chí ấy đánh đồng BĐTD với sơ đồ, lược đồ thông thường.
Trình độ vi tính chưa đồng đều. Một số đồng chí kĩ năng sử dụng máy vi tính còn lúng túng do ít sử dụng, ít thực hành nên cũng ít nhiều ảnh hưởng đến việc sử dụng BĐTD vào dạy học.
Đầu tư để dạy một tiết học có ứng dụng BĐTD là mất rất nhiều thời gian. Vì ứng dụng BĐTD vào dạy học luôn đi kèm với ứng dụng công nghệ thông tin nên yêu cầu giáo viên phải vừa có kĩ năng vi tính vừa có kĩ năng sử dụng BĐTD . Nếu thiết kế bản đồ tư duy theo kiểu thủ công thì cũng cần có một khoản  kinh phí không nhỏ để mua giấy, mầu vẽ, nam châm…  thiết kế thủ công thì khi dạy không tránh khỏi sự cồng kềnh, mất một khoảng bảng rộng để đính giấy vẽ. Trong khi đó quy định số giờ dạy cho giáo viên là 19 tiết/ tuần (hiện giáo viên trường THCS Yên Nghĩa dạy 16 – 18 tiết/tuần), ngoài ra còn 15 loại sổ sách giáo viên phải thường xuyên cập nhật. Yên Nghĩa lại là trường nằm ở vùng nông thôn nên ngoài lương ra giáo viên không có thu nhập gì thêm, chế độ khen thưởng còn nhiều bất cập (thao giảng đạt giờ giỏi thưởng 30.000đ, chuẩn bị và dạy một tiết chuyên đề chi 50.000đ, đề tài sáng kiến kinh nghiệm đạt loại A thưởng 50.000đ, cuối năm xếp loại thi đua xuất sắc thưởng 100.000đ) nên để chuẩn bị một giờ dạy có ứng dụng BĐTD theo đúng nghĩa là rất khó khăn.
* Về phía học sinh:
Tuy các em đã được học vi tính, được hướng dẫn sử dụng bản đồ tư duy trong học tập nhưng thực tế rất ít em dùng vào việc học.
Đa số học sinh không mặn mà với môn Lịch sử. Hiện tượng này xuất phát từ nhiều lí do nhưng chủ yếu là do quan niệm lệch lạc của cả giáo viên, phụ huynh và học sinh cho rằng Lịch sử chỉ là môn phụ nên đến cả nhiều bậc phụ huynh học sinh cũng không cần cho con mình học Lịch sử. Do đó đã ảnh hưởng đến chất lượng giờ dạy.
* Về cơ sở vật chất:
Số lượng máy chiếu đa năng với 03 chiếc, máy chiếu đa vật thể 01 chiếc (01 máy trang bị từ năm 2005, 02 máy được trang bị năm 2008) là quá ít so với nhu cầu giảng dạy của giáo viên, hơn nữa nay đã cũ, hay hỏng hóc. Mạng điện không ổn định, hay mất điện đột xuất không báo trước, hoặc do quá tải lưới điện… Hậu quả là một số giờ giáo viên chuẩn bị chu đáo cho việc ứng dụng công nghệ thông tin và BĐTD nhưng không thực hiện được, lo nhất là vào những dịp hội giảng, thanh tra, ảnh hưởng đến chất lượng xếp loại giờ dạy, nên càng làm cho giáo viên ngần ngại trong việc ứng dụng BĐTD vào dạy học.
 
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HIỆU PHÓ CHUYÊN MÔN CHỈ ĐẠO VIỆC ỨNG DỤNG CNTT VÀO ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS.
1. Cần đổi mới nhận thức của giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh:
           1.1.Tuyên truyền để giáo viên, học sinh và cả phụ huynh học sinh thấy được vai trò quan  trọng của môn Lịch sử trong hệ thống giáo dục:
Lịch sử là một môn khoa học và là một trong những khoa học ra đời sớm nhất trong lịch sử nhân loại, “Tư duy của con người bắt đầu từ đâu thì Lịch sử cũng bắt đầu từ đấy” (Enghen). Lịch sử phản ánh quá trình phát triển của loài người bằng cách ghi chép lại các sự kiện xẩy ra trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống từ xa xưa cho đến nay. Bao nhiêu kiến thức, bao nhiêu kinh nghiệm quý báu của nhân loại được ghi nhận trong môn Lịch sử. Các nhà sử học cổ đại Phương Tây xem “lịch sử là cô giáo của cuộc sống”, “là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”, vì thế  ngay từ thời cổ đại, môn Lịch sử đã rất được chú trọng, trong một thời gian dài hàng nghìn năm nó đã được coi là một môn học cơ bản trong các trường học.
Trong triều đại Phong kiến, ngay các quốc gia phong kiến lớn như Trung quốc, Ấn Độ… những vị vua anh minh đều là những người thông hiểu lịch sử. Bởi có thông hiểu lịch sử thì mới biết kinh nghiệm để trị vì đất nước, biết được những nghệ thuật quân sự để bảo vệ quốc gia.
Ở nước ta, thời Phong kiến, Lịch sử là một trong những kiến thức chính được dùng trong chương trình giáo dục, vậy mà không biết bao nhiêu nhân tài đã được sản sinh ra từ đây. Đó là những con người kiệt xuất như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh…Nên kiến thức Lịch sử rất quan trọng để góp phần hình thành nên nhân cách con người.
Tục ngữ, ca dao đã nói:
“Uống nước nhớ nguồn”
“Con người có cố, có ông,
     Như cây có cội như sông có nguồn”.
Cội nguồn của chúng ta chính là lịch sử, nên Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở:
“Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Và “nên học sử ta”, vì “Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta…” dạy cho ta bài học  dựng nước và giữ nước. Còn phần Lịch sử thế giới, giúp ta hiểu biết về nền văn minh nhân loại, mở rộng tầm mắt .
        Chính vì thế lịch sử đã được đưa vào chương trình giảng dạy ở mọi cấp học góp phần giáo dục hoàn thiện nhân cách con người.
Ngày nay, khi giáo dục đang gắn việc dạy kiến thức với việc dạy kĩ năng sống cho học sinh thì những kinh nghiệm được lịch sử ghi lại sẽ không thể thiếu trong các bài học trên lớp. Trong chương trình “Nhận biết hiểm hoạ” của VTC14 – Đài Truyền hình Việt Nam - số tháng 10/2010, Giáo sư Văn Như Cương có bài phát biểu rất ý nghĩa. Trước tình trạng bạo lực học đường đang gia tăng, Giáo sư cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do phương pháp học tập. Hiện nay học sinh tập trung nhiều vào các môn tự nhiên như Toán, Lý, Hóa, các môn học này rất khô khan, dẫn đến lối sống thiếu tình cảm và việc các em giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực là rất dễ xẩy ra.
Vì vậy, muốn dạy học có chất lượng, chúng ta cần nhìn nhận đúng  vai trò của Khoa học lịch sử và bộ môn Lịch sử trong nhà trường. Đầu tư vào nghiên cứu lịch sử ta sẽ được lịch sử trao tặng một món quà vô hình nhưng vô cùng quý giá: nhân cách làm người!
        1.2. Tuyên truyền để giáo viên, học sinh nhận thấy lợi ích của ứng dụng BĐTD vào dạy và học môn Lịch sử:
         * Với giáo viên:
- Ứng dụng BĐTD vào dạy học môn Lịch sử sẽ khắc phục được tình trạng học vẹt, học thuộc lòng của môn Lịch sử hiện nay ở các trường phổ thông:     
- Ứng dụng BĐTD vào dạy học môn Lịch sử sẽ dễ dàng tạo được những bài học lịch sử hấp dẫn, chất lượng:
        Các nhà nghiên cứu tâm lí giáo dục đã đúc kết:
Nghe thì quên
Nhìn thì nhớ
Làm thì sẽ thấu hiểu .
          Adam Khoo - một triệu phú trẻ nhất và giàu có nhất ở Singapore, một diễn giả đầy tài năng ở Châu Á, một nhà đào tạo cách làm việc hiệu quả và là một doanh nhân năng động- đã viết trong cuốn sách “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế”   – Nhà xuất bản Phụ nữ - do Trần Đăng Khoa và Uông Xuân Vy dịch. Tại phần II “Những phương pháp học siêu đẳng” có nói đến “bộ não hai- trong- một” của chúng ta như sau: các lớp trên cùng và trung tâm của bộ não được cấu tạo từ bán cầu não trái và bán cầu não phải. Hai bán cầu nối liền nhau nhờ vào tập hợp các sợi dây thần kinh. Mỗi bán cầu có một vai trò khác nhau. Não trái chúng ta xử lý thông tin về lập luận, toán học, phân tích, ngôn ngữ, các chuỗi số và sự kiện... Não phải của chúng ta chăm lo những việc như âm nhạc, sáng tạo, mơ mộng, tưởng tượng, màu sắc, tình cảm”... Não phải là nguyên nhân gây sao nhãng, mất tập trung. Các nhà thiên tài có khả năng đạt những thành tích xuất chúng là vì họ tận dụng được cả hai bán cầu não.
Cũng theo cuốn sách này, các nhà nghiên cứu cho rằng các môn học trong nhà trường hiện nay, có đến 90% là những môn thiên về não trái, trong đó có môn Lịch sử.
          Còn  theo tôi, môn học Lịch sử là một môn học rất đặc biệt, cần đến khả năng song song của cả hai bán cầu đại não. Não trái sẽ giúp ta tiếp thu các sự kiện lịch sử với những chuỗi con số về ngày, tháng, năm diễn ra sự kiện, rồi xử lý thông tin, phân tích, nhận xét, đánh giá các sự kiện đó. Còn não phải giúp cho tưởng tượng làm sống lại các sự kiện lịch sử, bộc lộ tình cảm thái độ.
 Nhưng đáng tiếc, phương pháp dạy học và đặc biệt là sự hạn chế của đội ngũ giáo viên dạy môn Lịch sử hiện nay,  không tận dụng được chức năng của não phải và do đó không tối ưu hóa sức mạnh của bộ não. Bởi chúng ta nặng về việc yêu cầu học sinh học thuộc lòng những sự kiện và ghi nhớ máy móc thời gian, dẫn đến việc học sinh hay mất tập trung trong giờ học, ngại học Lịch sử. Vậy trong quá trình dạy học, giáo viên cần tìm biện pháp để học sinh phát huy được cả hai bán cầu não, giống như chúng ta đi bằng hai chân sẽ nhanh hơn một người phải “chạy” bằng một chân.
          BĐTD chính là một phương tiện hữu hiệu giúp giáo viên thực hiện được điều này. Ứng dụng BĐTD vào tiết dạy chính là giáo viên đã huy động được sự hoạt động của cả hai bán cầu não. Bởi khi sử dụng BĐTD, não trái sẽ giúp học sinh tính toán, lựa chọn ngôn ngữ, sắp xếp thời gian và sự kiện …  Còn não phải giúp học sinh tưởng tượng, sáng tạo, lựa chọn màu sắc, hình ảnh… để tạo ra hệ thống nhánh lớn, nhánh nhỏ cho một sơ đồ tư duy hoàn chỉnh. Như vậy, BĐTD tận dụng được nguyên tắc của trí nhớ: sự hình dung, sự liên tưởng, làm nổi bật sự việc, giúp học sinh ghi nhớ sự kiện Lịch sử một cách dễ dàng hơn.
Giảm được sức làm việc của giáo viên:
       Trong một giờ dạy học Lịch sử truyền thống, giáo viên giữ vai trò chính, nói nhiều, hoạt động nhiều . Còn nếu thiết kế bằng BĐTD thì giáo viên chỉ mất công chuẩn bị, lên lớp gọn gàng với chiếc máy vi tính hoặc một bản vẽ trong đó đã đầy đủ sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh … giúp giáo viên tiết kiệm thời gian vì nó chỉ tận dụng những từ khóa.
- Ứng dụng BĐTD góp phần hoàn thiện dần những phẩm chất cần có của người giáo viên trong thế kỉ XXI:
     Thời đại ngày nay và trong tương lai, BĐTD sẽ được ứng dụng rộng rãi, phổ biến trong nhiều lĩnh vực. Giáo dục là một lĩnh vực cơ bản để tạo nên sự chuyển biến này. Vậy trước hết người giáo viên cần phải tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết về BĐTD, mới đáp ứng được yêu cầu của nền giáo dục hiện đại.
      *Với học sinh:
- Tạo thuận lợi về mặt tâm lí:
        Học sinh thường hào hứng, chờ đón những tiết học như thế này bởi  không gian học tập được thay đổi, không còn là bốn bức từng và tấm bảng đen với chi chít nét chữ bằng phấn trắng đơn điệu, các em sẽ được quan sát những hình ảnh đa dạng, màu sắc sống động… tạo tâm trạng hứng thú để các em tiếp thu bài tốt hơn.
- Góp phần giáo dục đạo đức học sinh:
        Một số học sinh thường phung phí thời gian cho những việc làm vô bổ hoặc dùng vi tính để chơi game, nên bị bố mẹ tìm cách quản thúc tại nhà, cấm đoán không cho tiếp xúc với máy tính.  Trong khi đó, các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: một trong những nguyên tắc giáo dục trẻ em là không nên cấm đoán, mà hãy hướng các em tới những việc làm khác có ích, để rồi dần dần các em quên đi những việc làm vô ích.
Vậy trong máy tính, ta hãy cài đặt cho trẻ phần mềm vẽ bản đồ tư duy, mua một ít giấy và màu vẽ, rồi hướng dẫn trẻ sử dụng để phục vụ cho việc học tập, các em sẽ bị lôi cuốn bởi có cơ hội tìm tòi khám phá, bày tỏ ý kiến, thể hiện năng lực sở trường (nhất là với những trẻ có năng khiếu vẽ)…
       Thực tế có nhiều học sinh chưa biết cách khai thác BĐTD phục vụ cho việc học tập, nên trong các giờ dạy giáo viên cần đưa thêm cả thao tác hướng dẫn học sinh  kĩ năng này, chính là chúng ta đang hướng các em tới những lợi ích của BĐTD. Như vậy các bậc phụ huynh cũng yên tâm hơn khi cho con cái tiếp xúc với vi tính.
-  Góp phần hình thành cho học sinh phương pháp học hiện đại:
         Hiện nay, với mục tiêu giáo dục toàn diện nên học sinh phải học nhiều môn học cùng một lúc. Phương pháp học theo hình thức học sinh tự học, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên đang được phổ biến, sách giáo khoa chỉ còn là một kênh tham khảo chứ không phải là “pháp lệnh” như trước kia nữa, vậy thì BĐTD sẽ giúp ích đắc lực cho học sinh hoàn chỉnh bài học của mình, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống nên sẽ hạn chế được hiện tượng học sinh học vẹt, học thuộc lòng sáo rỗng…
          Thay vì phải ngồi hàng giờ để ghi nhớ cả một bài học dài vài trang giấy, thậm chí phải ghi nhớ cả một chương đến vài chục trang, thì với  BĐTD học sinh chỉ cần ghi nhớ các từ khóa trên một mặt giấy  nên giúp học sinh tiết kiệm thời gian, ghi nhớ kiến thức và hiểu bài nhanh hơn.
2. Tổ chức tập huấn cho giáo viên và học sinh kĩ năng ứng dụng BĐTDvào dạy học môn Lịch sử.
         2.1.Chuẩn bị về cơ sở vật chất :
      Việc ứng dụng BĐTD vào dạy và học rất đơn giản, bằng rất nhiều hình thức nên việc chuẩn bị cũng không bắt buộc tốn kém như việc ứng dụng công nghệ thông tin (như bài khóa luận trước tôi đã nghiên cứu).
          Đối với trường có điều kiện đầu tư, thì mua sắm máy tính, máy chiếu, cài đặt phần mềm  chuyên vẽ bản đồ tư duy. Hiện nay, trường THCS Yên Nghĩa và các trường trong quận Hà Đông đang sử dụng phần mềm MINDMAP 5 của một nhóm tác giả do Tiến sĩ Trần Đình Châu - Vụ trưởng, Giám đốc Ban điều hành Dự án Phát triển giáo dục THCS II, Bộ GD&ĐT - chỉ đạo. Ưu điểm của phần mềm này là đơn giản,  dùng hoàn toàn phông chữ bằng tiếng Việt, có nhiều chức năng, dễ dàng kết nối với các phần mền khác nên dễ sử dụng và rất tiện lợi cho quá trình soạn giảng.
          Nếu nhà trường chưa có điều kiện mua sắm trang thiết bị như trên, có thể dùng phấn màu, bút màu, vẽ lên bảng, vẽ lên giấy ... cũng đều đem lại  những hiệu quả nhất định trong giảng dạy.
2.2. Bồi dưỡng và học tập nâng cao trình độ ứng dụng BĐTD cho giáo viên dạy môn Lịch sử:
*Tập huấn phần mềm vẽ Bản đồ tư duy:
Trong dịp hè 2011, Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hà Đông đã phối hợp  với Ban điều hành Dự án phát triển giáo dục THCS II, tổ chức tập huấn phần mềm Mindmap5 cho các trường Mẫu giáo, Tiểu học và Trung học cơ sở trên toàn quận. Chương trình tập huấn của Tiến sĩ Trần Đình Châu ngay lập tức đã thu hút được sự quan tâm và sự nhiệt tình học tập của tất cả các lớp học viên bởi ai cũng nhận thấy tính ưu việt của một phương pháp dạy học mới đang được thai nghén hình thành từ giây phút ấy.
Chương trình tập huấn được tổ chức theo nhiều đợt,  nhiều hình thức. Đợt một tổ chức tại Sầm Sơn – Thanh Hóa - dành riêng cho các Hiệu trưởng nhà trường. Đợt hai - tổ chức tại Hội trường UBND quận Hà Đông-  mở rộng đến đội ngũ cốt cán (Ban giám hiệu, Chủ tịch Công đoàn, Tổ trưởng chuyên môn). Đợt ba – tổ chức ngay tại địa điểm các trường học -  tập huấn cho 100% giáo viên của các trường trong địa bàn quận.
Phương pháp tập huấn như trên rất hiệu quả, bởi đội ngũ cốt cán, có trách nhiệm chỉ đạo chuyên môn đều được tập huấn rất kĩ (2 đến 3 lần), đây cũng chinh là những hạt nhân để tư vấn, giúp đỡ cho tất cả giáo viên trong trường trong quá trình áp dụng phần mềm.
           * Học vi tính:
Mặc dù bản đồ tư duy không chỉ tạo ra từ phần mềm cài đặt trong máy tính mà có thể tạo ra bằng cách thủ công như vẽ trên bảng, vẽ trên giấy. Nhưng muốn phát huy hết tác dụng của BĐTD trong công tác dạy học thì giáo viên phải biết sử dụng máy vi tính, phải biết kết nối phần mềm này với các phần mềm ứng dụng khác, để cài đặt hình ảnh, âm thanh cho bản đồ tư duy. Vậy trình độ tin học của giáo viên đòi hỏi ở mức độ như thế nào ?
     Về vấn đề này, rất nhiều đồng chí giáo viên cho rằng : cần phải được đào tạo và giỏi về tin học thì mới ứng dụng được BĐTD vào dạy học.  Trong khi đó, nếu theo học một lớp tin học ở các trung tâm đào tạo ít nhất là 3 đến 6 tháng , kèm theo là một khoản tiền học phí không ít so với lương giáo viên hiện nay. Nhưng tôi thấy chỉ cần biết tin học và kiên trì học hỏi, vừa làm vừa học, là chúng ta có thể tạo được những sản phẩm đáp ứng được yêu cầu dạy môn Lịch sử hiện nay.
      Bản thân tôi chưa qua một lớp đào tạo chính thức nào về tin học ngoài việc học lớp bồi dưỡng tin học do nhà trường và do Phòng giáo dục và Đào tạo quận Hà Đông tổ chức, nhưng từ năm học 2005–2006 đến nay, tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học và tự làm được 28 sản phẩm, sáng kiến kinh nghiệm của tôi viết về đề tài “Tổ trưởng chuyên môn chỉ đạo việc ứng dụng Công nhệ thông tin vào giảng dạy môn Lịch sử” đã được Hội đồng xét SKKN Thành phố Hà Nội đánh giá cao và xếp loại B. Và hiện tại, tôi đã tự thiết kế được một số bài giảng kết hợp việc ứng dụng CNTT và BĐTD vào dạy học (tôi sẽ trình bày vấn đề này rõ hơn ở phần ứng dụng thực tế).
Như vậy, để ứng dụng BĐTD vào dạy học, giáo viên chỉ cần có trình độ tin học cơ bản  như :
  • Khả năng thiết kế và trình chiếu bài giảng bằng phần mềm Minmap và một số phần mềm ứng dụng khác.
  • Khả năng khai thác thông tin từ mạng Internet , băng đĩa CD và VCD.
  • Sao chép bằng máy quét...
Vậy, việc học tin học để ứng dụng BĐTD vào đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử là một việc khả thi, đa số giáo viên đều có thể áp dụng được.
* Các bước vẽ BĐTD:
-Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm:
          Bước đầu tiên trong việc tạo ra BĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm (giữa trang vẽ) để từ đó phát triển ra các ý khác. Ở bước này ta có thể sử dụng tất cả màu sắc mà mình muốn; không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề và chủ đề cần được làm nổi bật dễ nhớ; ta có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ:
          Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật; Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn với trung tâm; nên vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ: Quy tắc thực hiện bước này là:
+ Chỉ nên tận dụng các từ khóa (hoặc viết tắt) và hình ảnh.
+ Mỗi từ khóa/ hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh.
 + Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa. Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng.
    2.3. Những thao tác cơ bản  khi soạn giáo án có ứng dụng BĐTD:
a- Công việc chuẩn bị:
        -  Chọn bài dạy :
      Với bộ môn Lịch sử thì hầu hết các tiết học đều có thể ứng dụng BĐTD, vì một tiết dạy Lịch sử bao giờ cũng gắn với bản đồ, lược đồ, sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh, tư liệu… nhưng vì giáo viên không có điều kiện chuẩn bị và dạy tất cả những bài lịch sử bằng BĐTD, nên chúng ta chọn những bài cần khái quát kiến thức bằng BĐTD. Mỗi năm học chúng ta nên chọn một dạng bài để tập trung thiết kế như vậy sẽ có chất lượng hơn.
         Với tôi trong thời gian qua, tôi đã chỉ đạo và cùng giáo viên trong nhóm thiết kế được 13 giáo án có ứng dụng BĐTD. Những giáo án này trong năm học 2010-2011 nhóm giáo viên môn Lịch sử chúng tôi đã soạn và có ứng dụng công nhệ thông tin, nay bổ sung thêm phần ứng dụng BĐTD. Đó là các chùm bài  sau:
 
 
Bài ôn tập
 
Lớp 6
Tiết 7 – bài 7 – Ôn tập
Tiết 17 – bài 16 – Ôn tập chương I và chương II
Tiết 33 – bài 28 – Ôn tập
Lớp 7 Tiết 10 – Ôn tập chương I
Tiết 46 – Ôn tập chương IV
Lớp 8 Tiết 51 – Bài 31 – Ôn tập lịch sử Việt Nam
Bài tổng kết Lớp 7 Tiết 68 – bài 30 - Tổng kết.
Lớp 9 Tiết 51 – bài 34 - Tổng kết lịch sử Việt Nam.
Lớp 7 Tiết 21 - Thăng Long thời Lý
Lớp 8 Tiết 50 – Hà nội 1885 – 1918
Lớp 9 Tiết 29 – Hà Nội từ 1919 - 1945
 
Bài cung cấp kiến thức mới
Lớp 6 Tiết 22 – bài 20 - Từ sau Trưng Vương đến trước Lý Nam Đế
Lớp 8 Tiết 46 – Chính sách khai thác thuộc địa của Thực dân Pháp và những chuyển biến kinh tế xã hội ở Việt Nam
 
        Dự kiến từ nay đến hết năm học 2011 – 2012 chúng tôi sẽ thiết kế thêm một số bài tổng kết và một số bài liên quan đến các sử kiện lịch sử quan trọng trong chương trình lịch sử lớp 9:
1 Tiết 14 Những thành tựu chủ yếu và ý nghĩa lịch sử của cách mạng khoa học – kĩ thuật sau chiến tranh thế giới thứ hai
2 Tiết 15 Tổng kết lịch sử thế giới từ sau năm 1945 đến nay
 
3  
Tiết 28
Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
4  
Tiết 38
Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân pháp xâm lược kết thúc (1953-1954)
5  
Tiết 46
Hoàn thành giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (1973 – 1975)
 
  • Hình thành ý tưởng thiết kế và sưu tầm tư liệu, hình ảnh theo ý tưởng thiết kế:
           Muốn ứng dụng BĐTD, ngoài việc soạn bài thông thường, giáo viên còn thêm một công đoạn là phải định hướng những đơn vị kiến thức cần thiết để chuẩn bị cho việc thiết kế Bản đồ tư duy trên máy vi tính.
 Mỗi ý thể hiện trên BĐTD không chỉ được ghi lại bằng kênh chữ mà còn có thể minh họa bằng kênh hình, kênh tiếng. Nguồn tư liệu, hình ảnh, âm thanh minh họa này giáo viên có thể sưu tầm trên mạng Internet, trong sách báo hay băng đĩa CD - VCD, quay những đoạn phim tư liệu Lịch sử theo yêu cầu của bài soạn... Cho nên giáo viên cần phải soạn bài trước ít nhất là một tuần để có thời gian chuẩn bị.
     Công việc sưu tầm không chỉ trong một vài ngày mà diễn ra thường xuyên và vô hạn. Khi sưu tầm, giáo viên cần chú ý những yêu cầu sau:
+ Cố gắng sưu tầm những tư liệu, hình ảnh có giá trị ( càng quý hiếm thì bài dạy càng độc đáo);
+ Phù hợp với ý tưởng thiết kế giáo án, làm nổi bật trọng tâm kiến thức bài dạy;
+ Có tính giáo dục;
+ Có tính thẩm mỹ.
     Tóm lại , công việc chuẩn bị để thiết kế một sản phẩm ứng dụng BĐTD là tương đối công phu, đòi hỏi người giáo viên luôn luôn không ngừng tìm tòi học hỏi, thì  mới có được những sản phẩm có giá trị cao.     
     b- Công việc thiết kế:
* Thiết kế trên máy tính:
- Ứng dụng BĐTD vào dạy học môn Lịch sử chủ yếu soạn thảo trên phần mềm Minmap 5:
          Lợi thế của phần mềm này là :
 + Có chương trình mặc định sẵn để vẽ bản đồ tư duy;
  + Có thể kết nối với các phần mềm khác (như với phần mềm Violet, PowerPoint;  Violet;  Geometer’sSketchpad; CabriGeometry; Maple)
+Chúng ta có thể đưa được nhiều loại thông tin lên màn hình trình chiếu: như số liệu, hình ảnh, âm thanh, sơ đồ, biểu đồ, bài tập trắc nghiệm, trò chơi...
  + Có thể di chuyển, thay đổi vị trí các nhánh, có thể thu nhỏ hoặc phóng to hình ảnh,  giúp giáo viên trình bày ý tưởng rất thuận lợi,  làm cho bài giảng  sinh động, đa dạng.
     Cho nên giáo viên cần nắm được đặc điểm này để tạo ra các sản phẩm phù hợp, phục vụ tốt nhất cho ý tưởng bài soạn.   
Lưu ý:
  - Chọn màu cho các nhánh: 
       Mỗi một hướng nhánh được thể hiện bằng một màu. Quy ước này cũng sẽ giúp HS dễ dàng nhận thấy các đơn vị kiến thức chính trong một bài học.
- Chọn hình ảnh minh họa  để chèn vào BĐTD:
  Các hình ảnh yêu cầu phải trong và rõ nét. Đăc biệt muốn lấy hình ảnh trên mạng Internet chúng ta cần chọn những hình ảnh có độ phân giải cao thì khi trình chiếu lên màn ảnh rộng hình ảnh mới tỏ và đảm bảo tính thẩm mỹ cũng như tính giáo dục. Ví dụ:
+ Những chỉ số thể hiện độ phân giải cao (tranh ảnh có độ nét cao):
              687 >< 435 – 37,6 k
              261 >< 261 – 82 k
              722 >< 656 – 150 k
+ Những chỉ số thể hiện độ phân giải thấp (tranh ảnh mờ, nhòe):
              261 >< 261 – 12 k
              687 >< 435 – 3 k
                722>< 722 – 7k
 Phần hình tĩnh cần được “Insert from file” từ các file đã lưu trong kho dữ liệu của máy. Người giáo viên cũng có thể tự tạo ra hình tĩnh bằng tự vẽ ngay trên các nhá sơ đồ hoặc quét ảnh bằng máy quét. Phần hình động có thể “Insert from movie”  từ các file đã tạo thành các đoạn phim  lưu trữ.
* Thiết kế BĐTD theo phương pháp thủ công:
          Không phải lúc nào giáo viên cũng có thể sử dụng máy tính để thiết kế bản đồ tư duy bởi như trên đã đề cập đến (đó là những yếu tố khách quan như mất điện, không đủ điều kiện về cơ sở vật chất…), vậy trong những điều kiện như vậy giáo viên có thể sử dụng phương pháp thủ công để tạo ra những BĐTD.
          Công việc này chúng ta có thể hình dung như sau: Khi đã hình thành ý tưởng thiết kế, chúng ta tận dụng các chất liệu dễ tìm kiếm  như bút màu, phấn màu, giấy vẽ để tạo ra BĐTD. Thậm chí có thể thiết kế ngay trên bảng đen. Các hình ảnh  sẽ được in sẵn ra giấy và sử dụng nam châm đính vào vị trí phù hợp.
          Cách làm này cũng tiện lợi và  hiệu quả.

Thiết kế bản đồ tư duy  trên bảng

 
Thiết kế Bản đồ tư duy trên giấy:
 

    c - Công việc trình bày BĐTD trong một giờ học:
- Việc sử dụng  BĐTD trong một tiết Lịch sử rất linh hoạt, theo ý đồ của giáo viên thiết kế:
+Cách 1: sử dụng BĐTD thay cho việc ghi bảng.
+Cách 2: sử dụng BĐTD cho một đơn vị kiến thức bài giảng.
+Cách 3: sử dụng BĐTD để củng cố kiến thức bài giảng.
- Cách viết và đọc BĐTD:
+ BĐTD được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ.
+ Trong cùng một nhánh, các từ khóa được viết và đọc theo hướng từ trên xuống dưới.
- Ứng dụng BĐTD luôn gắn liền với phương pháp đặc trưng  bộ môn và nội dung, mục tiêu bài học:
      Như ta đã biết , quá trình dạy học là tổng hợp các phương pháp dạy học , không có phương pháp dạy học  nào là độc tôn . Vậy ứng dụng BĐTD cũng chỉ là một trong những phương pháp dạy học, nên không thể coi việc ứng dụng BĐTD là phương pháp duy nhất giúp cho dạy học Lịch sử có hiệu quả, mà chỉ  hỗ trợ thêm cho quá trình dạy và học. Đây cũng là điểm khác biệt của việc ứng dụng BĐTD của môn Lịch sử so với các môn học khác. Và thực tế giáo dục ngày nay đang đặt ra một vấn đề còn quan trọng hơn cả đổi mới phương pháp, như khuyến nghị hai mươi mốt điều về chiến lược giáo dục của UNESCO đã ghi tại điều 3: “Giáo dục phải được tiến hành và tiếp thu bằng nhiều cách khác nhau. Điều quan trọng không phải là học theo cách nào mà là học cái gì và học được cái gì!”. Cho nên, trong quá trình dạy học Lịch sử, giáo viên nhất thiết phải kết hợp việc ứng dụng BĐTD với những phương pháp đặc trưng bộ môn và đặc biệt chú ý đến nội dung và mục đích dạy học.
2.4. Hướng dẫn học sinh sử dụng BĐTD phục vụ cho môn học Lịch sử:
          Muốn ứng dụng tốt BĐTD vào dạy học thì không chỉ người giáo viên có kỹ năng thiết kế mà học sinh cũng cần phải biết những thao tác cơ bản. Ở  trường THCS Yên Nghĩa, học sinh được học tin học từ lớp 6 nên  về kỹ năng thiết kế  BĐTD các em nhanh chóng thành thạo. Nhà trường lại có một cô giáo dạy Mỹ thuật trẻ, nhiệt tình và có năng lực, cùng phối hợp với giáo viên bộ môn hướng dẫn học sinh tự thiết kế BĐTD ngay trên trang vở hoặc phiếu học tập.
          Việc hướng dẫn học sinh sử dụng BĐTD vào học lịch sử là cần thiết vì những lí do sau:
+ Học sinh không bị bất ngờ vì sự thay đổi cách học tập:
          Tại một số tiết dạy đầu tiên có ứng dụng BĐTD, học sinh loay hoay không biết cách ghi chép, nên mặc dù giáo viên chuẩn bị rất công phu nhưng hiệu quả giờ dạy không cao. Ngay sau đó chúng tôi đã rút kinh nghiệm, ngừng các tiết dạy thể nghiệm, dành thời gian hướng dẫn học sinh kiến thức về BĐTD, đây cũng là bước chuẩn bị về tâm lí cho các em tiếp xúc với một phương pháp học mới.
+ Tạo ra thói quen tự giác ghi chép, hình thành tư duy độc lập sáng tạo cho học sinh, rèn kỹ năng khái quát kiến thức, hạn chế việc học thuộc lòng ghi nhớ máy móc trước đây.
          Với cách học này, mỗi học sinh sẽ có một cách ghi nhớ của riêng mình. Nội dung bài học trước kia được chép lại qua lời thầy cô giáo đọc hoặc chép lại ở trên bảng,  thể hiện bằng những hàng chữ dài dòng, chi chít và đơn điệu, thì nay học sinh tự ghi chép lại theo cách hiểu của mình, thể hiện qua sơ đồ tư duy với hệ thống nhánh lớn nhánh nhỏ, với những cụm từ ngắn gọn cô đọng nhưng hệ thống và sinh động với đủ sắc màu.
+ Tạo sự say mê, yêu thích môn Lịch sử:
Trong quá trình các em tự tìm tòi khám phá, tự khái quát kiến thức theo cách của riêng mình , kích thích học sinh bởi học sinh sẽ có tâm trạng hứng khởi khi thấy mình nắm chắc những bài trên lớp và như đã khám phá ra mmột điều độc đáo, mới mẻ mà các bạn khác không có.
2.5- Tóm tắt một số hoạt động dạy học trên lớp với bản đồ tư duy:
Trong quá trình giảng dạy và tham khảo thêm tư liệu của Tiến sĩ Trần Đình Châu và Tiến sĩ Đặng Thị  Thu Thủy (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam), chúng tôi đã xây dựng các hoạt động dạy học trên lớp với Bản đồ tư duy như sau :
-Hoạt động 1: Học sinh lập BĐTD theo nhóm hay cá nhân với gợi ý của giáo viên.
-Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về BĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
-Hoạt động 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về kiến thức của bài học đó. GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh BĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
 Ở bước này giáo viên lưu ý: BĐTD là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả học sinh có chung một kiểu. Giáo viên chỉ chỉnh sửa cho học sinh về mặt kiến thức, góp ý thêm về đường nét, màu sắc và hình thức (nếu cần)
-Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một BĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc một BĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho HS lên trình bày, thuyết minh về kiến thức đó.
 
3. Hiệu phó chuyên môn cần đề xuất với Hiệu Trưởng, với Hiệu phó phụ trách cơ sở vật chất đầu tư cơ sở vật chất  và bố trí nhân lực để phục vụ cho việc ứng dụng BDTD vào dạy học môn Lịch sử:
          Hiệu phó chuyên môn là người thường xuyên , trực tiếp tiếp xúc với giáo viên nên nắm bắt được những tâm tư, nguyện vọng của các tổ viên và có trách nhiệm phản ánh khách quan những vấn đề đó trong Ban giám hiệu. Việc Hiệu phó chuyên môn đề xuất ý kiến với Hiệu Trưởng, Hiệu phó phụ trách cơ sở vật chất tăng cường mua sắm đầu tư trang thiết bị phục vụ cho việc ứng dụng bản đồ tư duy vào giảng dạy là hoàn toàn hợp lí bởi đây là việc làm thiết thực cho cả nhà trường .
        Tuy nhiên việc đề xuất này không phải ngay lập tức có thể đáp ứng vì liên quan đến tài chính ngân sách, cho nên tuỳ thuộc vào thế mạnh cơ sở vật chất của từng trường mà Hiệu phó chuyên môn có những đề xuất cho hiện tại, có những đề xuất lâu dài.
        Từ năm học 2010 – 2011, Trường THCS Yên Nghĩa đang phấn đấu chuẩn giai đoạn II (2010-2020) trang thiết bị cơ sở vật chất cần phải đầu tư nhiều. Dự định trong thời gian tới, nhà trường đề xuất thay thế những trang thiết bị đã cũ, xây dựng khu nhà đa năng; tiếp nhận khu phòng học của Tiểu học mở rộng diện tích, nâng cao chất lượng dạy và học để đáp ứng điều kiện chuẩn quốc gia giai đoạn 2010-2020. Riêng với phân môn Lịch sử chúng tôi đã có dự kiến như sau:
+ Về tổ chức đội ngũ: đề xuất với Ban giám hiệu xin thêm 01 giáo viên chuyên môn.
+ Về cơ sở vật chất: 01 phòng bản đồ;  01 phòng chuyên môn có gắn thiết bị nghe nhìn để phục vụ cho việc giảng dạy môn Lịch sử.
+ Xây dựng giáo án mẫu về sử dụng bảng thông minh, ứng dụng công nghệ thông tin và bản đồ tư duy, thiết kế thêm bài giảng điện tử có ứng dụng E-Learning.
+ Dành một phần kinh phí để tổ chức chuyên đề , mời chuyên gia về tập huấn nâng cao kỹ năng ứng dụng bản đồ tư duy cho đội ngũ giáo viên.
      Những đề xuất này đã được đồng chí Hiệu trưởng phê duyệt, nhận được sự nhất trí cao trong Hội đồng trường. Chúng tôi hy vọng trong tương lai, môn Lịch sử sẽ được quan tâm đầu tư hơn nữa để góp phần nâng cao chất lượng  giáo dục.
 
 
 
 
 
 
IV-  ỨNG DỤNG THỰC TẾ :
     Sau đây là ứng dụng cụ thể của tôi vào một tiết Lịch sử lớp 6
Tiết 7 – Bài 7:
ÔN TẬP
MỤC TIÊU:
  1. Về kiến thức: Qua bài cho hs nắm được:
  • Những kiến thức cơ bản của lịch sử thế giới cổ đại;
  • Sự xuất hiện của loài người trên trái đất;
  • Các giai đọan phát triển của con người thời Nguyên thủy thông qua lao động sản xuất;
  • Các quốc gia cổ đại;
  • Những thành tựu văn hóa lớn của thời cổđại.
  1. Về tư tưởng:
  • HS thấy được vai trò của lao động trong lịch sử phát triển của con người.
  • Biết trân trọng những thành tựu văn hóa rực rỡ của thời kì cổ đại.
  • Có những kiến thức cơ bản để làm cơ sở học tập phần Lịch sử dân tộc.
     3 – Về kỹ năng:
 - Bồi dưỡng kỹ năng so sánh,  khái quát sự kiện lịch sử cho HS;
- Rèn kỹ năng vẽ và sử dụng BĐTD để khái quát kiến thức.
CHUẨN BỊ:
  • Giáo viên:
+ Soạn giáo án điện tử kèm theo phần mềm ứng dụng BĐTD.
+ Chuẩn bị phương tiện: Máy tính, loa đài, máy chiếu đa năng, máy chiếu đa vật thể.
  • Học sinh:
+Chuẩn bị bài trước ở nhà theo các câu hỏi sgk, sưu tầm trên mạng Internet những tư liệu, tranh ảnh về thành tựu văn hoá thời cổ đại.
+ Thể hiện nội dung kiến thức bài học bằng bản đồ tư duy vẽ trên giấy.
MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY:
          + Sử dụng BĐTD để khái quát kiến thức bài học.
+ Sử dụng BĐTD có kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin.
Cho nên tôi sử dụng BĐTD ở phần củng cố cuối bài.
LÊN LỚP:
A/ Ổn định lớp: (1’)
B/ Kiểm tra bài cũ:  ( Gv kiểm tra trong quá trình ôn tập)
C/ Ôn tập: (42 phút)
Hình thức ôn tập:
  • Hoạt động nhóm + cá nhân
  • HS trình bày – nhận xét – bổ sung
  • Gv sử dụng phần mềm công cụ Mỉcrosoft Powerpoint trình chiếu các đơn vị kiến thức cần ôn tập
  • Phần củng cố : GV sử dụng  Bản đồ tư duy chốt những ý chính cần ghi nhớ.
Nội dung ôn tập:
I/ Xã hội nguyên thủy: (10 phút)
1/  Dấu vết của người tối cổ:
Gv đưa slide 3 – yêu cầu hs chỉ những nơi đã phát hiện ra dấu vết của người tối cổ  - sau đó Gv dùng hiệu ứng cho HS nhận rõ vị trí các địa điểm.
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

- Đông Phi
- Nam Âu
- Châu Á ( Bắc Kinh, Gia Va )
? Tại sao những địa điểm này lại trở thành nơi sinh sống của người tối cổ?
( Hs trả lời bằng cách nêu các đặc điểm tự nhiên của những khu vực này)
 
2/ Người tối cổ và người tinh khôn:
Gv đưa slide 4 – HS quan sát người tối cổ và người tinh khôn:
 
 
 
 
Điểm khác nhau giữa người tối cổ và người tinh khôn:
Người tối
cổ
 
 
Người tinh khôn
 
 
  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Gv sử dụng hệ thống câu hỏi để hướng dẫn HS khai thác trang trình chiếu :
? Điểm khác nhau giữa người tối cổ và người tinh khôn:
+Về con người?
+Về công cụ lao động?
+Về tổ chức xã hội?
< >HS trả lờiGv sau khi cho nhận xét , thì chốt lại trên slide 5:
Giai đoạn
 
Nội dung

 
Người tối cổ:
         
 
Người tinh khôn:
 
 
Con người
- Dáng đứng hơi thẳng
 - Xương cốt còn thô, trán thấp, xương hàm bạnh
-  Hộp sọ nhỏ (1100cm3)
-  Có một lớp lông mỏng trên cơ thể.
 
 

 
- Dáng đứng thẳng
- Xương cốt nhỏ hơn, trán cao, răng gọn đều
- Hộp sọ lớn hơn (1450cm3), 
- Không còn lớp lông mỏng trên cơ thể.
 
Công cụ lao động
 
 Bằng đá ghè đẽo thô sơ
 
 Đá mài tinh xảo; xương động vật; kim loại đồng.
 
Tổ chức xã hội
 
Sống theo bầy
 
Sống theo thị tộc.
 
Gv đưa 1 số câu hỏi để kiểm tra kiến thức của HS :
? Hãy phân biệt : đồ đá cũ , đồ đá giữa, đồ đá mới?
? Đồ  kim khí ra đời có ý nghĩa như thế nào?
? Thị tộc là gì?
II/ Các quốc gia cổ đại: (22 phút)
1/ Những quốc gia lớn thời cổ đại:
Gv dùng slide 6 – HS quan sát lược đồ  và chỉ ra các quốc gia lớn thời cổ đại.
Gv dùng hiệu ứng để HS nhận rõ vị trí của các quốc gia trên lược đồ.
+ Phương Đông: Ai Cập, Lưỡng Hà,  Ấn Độ, Trung Quốc
+ Phương Tây: Hy Lạp, Rôma
 
 
 
 
 
 
 
 
 
1- Ai Cập
3- Lưỡng Hà
2- Ấn Độ
4- Trung Quốc
5- Hy Lạp
6- Rô ma
1
2
3
4
5
6
 
 
? Em có nhận xét gì về  vị trí ra đời của các quốc gia này?
( Thường là lưu vực của những con sông lớn...)
? Các quốc gia này ra đời có ý nghĩa như thế nào?
( đánh dấu sự phát triển của LS thế giới loài người)
 
2/ Đặc điểm xã hội và nhà nước thời cổ đại:
Gv sử dụng 1 số câu hỏi gợi ý:
? Các tầng lớp chính trong XH thời cổ đại: phương Đông, Phương Tây ?
? Cách tổ chức nhà nước thời cổ đại?
< >HS trả lời xong - GV dùng slide 7 chốt lại kiến thức: 
ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI, NHÀ NƯỚC THỜI CỔ ĐẠI
KHU VỰC
 
         ĐẶC ĐIỂM
 
PHƯƠNG ĐÔNG
 
PHƯƠNG TÂY
 
CÁC TẦNG LỚP
XÃ HỘI
-Quý tộc
-Nông dân
-Nô lệ
-Chủ nô
-Nô lệ
-Bình dân
 
TỔ CHỨC
 NHÀ NƯỚC
Nhà nước chuyên chế
(vua đứng đầu nắm mọi quyền hành)
Nhà nước dân chủ chủ nô
(riêng Rô-ma đến thế kỉ V theo thể chế quân chủ - đứng đầu là vua)
                                                
 
3/ Những thành tựu văn hóa thời cổ đại:
Gv đưa các câu hỏi gợi ý:
? Điểm lại những thành tựu văn hóa thời cổ đại:
+ Về chữ  số, chữ  viết?
+ Các ngành khoa học?
+ Các công trình kiến trúc nghệ thuật?
- HS dựa vào phần chuẩn bị bài ở nhà , lần lượt trình bày những thành tựu văn hóa thời cổ đại.
- Gv dùng slide 9 đưa đáp án để HS so sánh đối chiếu với phần bài soạn và bổ xung nếu cần thiết.
 
 
 
 
 
 
 
      
NHỮNG THÀNH TỰU VĂN HÓA THỜI CỔ ĐẠI
KHU VỰC
 
THÀNH TỰU
 
Ph­ương Đông
 
Ph­ương Tây
 
Chữ viết,
Chữ số
 - Chữ t­ượng hình; ng­ườ i Ai Cập biết đếm đến 10; ng­ười Ấn Độ sáng tạo ra số 0 …   - Tạo ra hệ chữ cái a,b,c với 26 chữ cái mà ngày nay ta đang dùng.
 
Các ngành khoa học
 - Ng­ười  Ai Cập giỏi hình học, người Lưỡng Hà  giỏi số  học.   - Nhiều thành tựu trong mọi lĩnh vực, có những nhà khoa học nổi tiếng….
 
Các công trình nghệ thuật
  • Kim tự tháp
  •  Thành Ba-bi-lon
  •  Vạn Lí Tr­ường Thành…
  • Đền Pac-tê-nông
  •  T­ượng lực sĩ ném đĩa, thần vệ nữ
  •  Đấu tr­ường Cô-li-dê…
 
Tiếp theo GV  giành thời gian cho từng nhóm HS lên trình bày kết quả sưu tầm của  nhóm về thành tựu văn hoá thời cổ đại .
Sau đây là một số  tư liệu, tranh ảnh tiêu biểu mà các em đã sưu tầm được trên mạng Internet:
 
 
Ac-si-met
A-ri-xtôt
Pi-ta-go
 
 
 
- Sử thi I-li-át là một trong 2 tác phẩm sử thi nổi tiếng [ I-li-át & Ô-đi-xê] của nhà th¬ mù Hôme [thời La Mã - Hy Lạp cổ, khoảng giữa thế kỷ IX TCN].
Đề tài 2 tập thõ đều khai thác từ cuộc chiến tranh giữa các quốc gia ở Hy Lạp với thành bang Troy ở Tiểu Á. Cuộc chiến này kéo dài 10 năm [1194 - 1184 TCN] với kết quả là sự thất bại của thành Troy.
Có rất nhiều tác phẩm đề cập đến cuộc chiến này [Con ngựa thành Troy, Quả táo vàng, …) và I-li-át với độ dài 15.683 câu, đã phần nào ghi lại lịch sử thật sự của cuộc chiến này,
miêu tả giai đoạn gay go nhất của cuộc chiến, tức là năm thứ 10.
 - Còn tập Ô-đi-xê dài 12.110 câu thì miêu tả chuyến hành trình trở về dài 10 năm của đoàn quân Hy Lạp, sau chiến thắng thành Troy.


 
Hô-me
Vạn lí trường thành
 
Kim tự tháp
 
Tượng nhân sư

 
       
   
 
Đền Pác-tê-nông
Đấu trường Cô-li-dê
  
 
 
 
 
 

? Em hiểu gì về những nhà bác học và các công trình kiến trúc, điêu khắc thời cổ đại?
 HS dựa vào kiến thức đã học và sưu tầm  để trả lời.
< >Gv dành thời gian giới thiệu thêm về Hô-me và 2 bộ sử thi. HS trả lờiGv dùng slide 13 để chốt lại kiến thức ( HS dùng máy vi tính điền ý kiến đánh giá  của mình vào những cánh hoa)
 
Đánh giá những thành tựu văn hoá thời
 cổ
đại:
 
 GV chốt lên bảng:
Thời cổ đại, loài người đã đạt được những thành tựu văn hóa phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh vực.
 
GV sử dụng câu hỏi để củng cố và liên hệ thực tiễn – HS thảo luận trả lời:
 Em có suy nghĩ gì về vai trò của lao động đối với sự phát triển của xã hội loài người trong quá khứ, hiện tại và tương lai?
(HS trả lời, bổ sung, nhận xét
Gv nhận xét và hướng dẫn HS về nhà tiếp tục hoàn thiện câu trả lời vào vở)
? Được tìm hiểu về lịch sử thời cổ đại, nhất là biết về những thành tựu văn hóa thời kì này, em thấy mình cần có ý thức như thế nào?
< >HS trả lời – Gv chốt lại:
 
 
SAU ĐÂY LÀ MỘT SỐ BĐTD DO HS TỰ THIẾT LẬP CHO BÀI HỌC:

 

 

E/ DẶN DÒ: (2’) 
< >GV sử dụng Slide 19 dặn dò HS học bài, hướng dẫn học sinh sưu tầm tư liệu có liên quan đến kiến thức bài họcHoàn thành BĐTD vào vở của mỗi học sinh.Soạn bài 8: Thời nguyên thủy trên đất nước ta. Cuối cùng GV nhận xét giờ học và thưởng điểm cho HS.
DẶN DÒ:
+ Học bài;
+ Tiếp tục sưu tầm những tư liệu, hình ảnh có liên quan đến kiến thức bài học;
+ Soạn bài 8: Thời nguyên thủy trên đất nước ta.
potloodsun14sun14sun14sun14sun14 
< >KẾT QUẢ  :
 
 

         
+ Trong Hội thi Giáo viên dạy giỏi quận  Hà Đông, cô giáo Bạch Hồng Vân  dạy môn Mĩ thuật, ghi bảng theo sơ đồ tư duy, giờ dạy đoạt giải nhất Hội thi:
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
+ Thiết kế Bản đồ tư duy  trên phần mềm máy tính:

 

 

 
3. Về phía học sinh:
   Khi thực hiện đề tài này tôi thấy , trong những tiết học có ứng dụng BĐTD, học sinh rất hứng thú học tập, không khí học tập sôi nổi, học sinh tập trung chú ý hơn , và chúng tôi cũng thấy rất hài lòng về giờ dạy.
     Là Hiệu phó chuyên môn, một tuần tôi dạy 4 tiết theo đúng quy định của  ngành giáo dục.  Tôi giảng dạy Lịch sử ở bốn lớp 6, những tiết nào thể nghiệm kết quả của đề tài tôi chỉ dạy ở một lớp để so sánh đối chứng kết quả . Lớp nào không được dạy bằng Bản đồ tư duy là các em tỏ ra rất luyến tiếc và mong muốn được học. Trong tình huống đó tôi thường nhận được những thông tin rất chân thành và tha thiết từ các em: “Thưa cô, tiết học ngày mai chúng em cũng được học giống như lớp 6B phải không cô!”  “Cô ơi, ước gì tiết nào chúng em cũng học như thế!”. Và để thể hiện sự chờ đón đó, trong cắp sách của các em không lúc nào thiếu giấy vẽ và bút dạ màu...  Tôi thật sự vui mừng và xúc động trước những tâm sự của các em  . Các em luôn có tâm trạng mong muốn, chờ đón những tiết học Lịch sử như vậy!
          Dưới đây là một số hình ảnh của học sinh trong giờ học có ứng dụng Bản đồ tư duy:
+ Giờ học Lịch sử lớp 8C - Học sinh đang thảo luận nhóm cùng thiết kế Bản đồ tư duy:

 
Tiết học Ngữ văn  lớp 8A - Học sinh trình bày sản phẩm Bản đồ tư duy:

 
Giờ Hóa học lớp 9E, thầy giáo ghi bảng theo sơ đồ tư duy:

 
+ Học sinh thiết kế bản đồ tư duy cho môn Toán:

 
   *Kết quả khảo sát : Để đánh giá kết quả chính xác, để các đồng nghiệp dễ đối chứng giữa giờ học có sử dụng BĐTD với giờ học không ứng dụng BĐTD, sau mỗi tiết học tôi thường khảo sát chất lượng ở cả bốn  lớp ( lớp  ứng dụng BĐTD và lớp không ứng dụng ), kết quả chung như sau:
 
 
Kiểu dạy
học
Kết quả học tập ( % ) Kết quả tâm lí  ( % )
 
Giỏi
 
Khá
 
Tbình
 
Yếu
Yêu thích môn Lịch sử Bình
 thường
Không thích môn Lịch sử
Ứng dụng BĐTD  
27,9
 
42,8
 
25,3
 
2
 
86
 
14
 
0
Không ứng dụng BĐTD  
12,7
 
33,6
 
36
 
17,7
 
61,5
 
15,4
 
23,1
 
 Như vậy, so sánh ta thấy những tiết học giáo viên có ứng dụng BĐTD thì kết quả cao hơn hẳn so với những tiết dạy không ứng dụng BĐTD. Điều đó khẳng định sự vượt trội của phương pháp dạy học này  so với phương pháp dạy học thông thường khác. Và điều đáng phấn khởi ở đây là việc ứng dụng công nghệ này vào giảng dạy không những chỉ thu hút được học sinh  học tập mà còn khơi dậy niềm say mê , nhiệt tình của cả đội ngũ các thầy giáo, cô giáo.
 
 
 
 
 
PHẦN  KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ :
< >KẾT LUẬN:KHUYẾN NGHỊGiáo trình Bồi dưỡng Hiệu trưởng Trung học cơ sở–NXB Hà Nội.Một số chuyên đề bồi dưỡng Cán bộ quản lý và giáo viên THCS (chủ biên: Tiến sĩ Trần Đình Châu) – NXB Giáo dục Việt Nam.Tôi tài giỏi, bạn cũng như thế (tác giả Adam Khoo)–NXB Phụ nữ.Từ điển bách khoa toàn thư.– NXB Giáo dụcSách giáo khoa Lịch sử lớp 6.– NXB Giáo dụcSách Bổ trợ kiến thức Lịch sử.– NXB Giáo dụcTư liệu Lịch sử lớp 6 – NXB Giáo dụcBài tập, tranh ảnh và bản đồ Lịch sử lớp 6 – NXB Giáo dục.Một số tư liệu, tranh ảnh khai thác trên mạng Internet. 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI
...................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
...................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
 
Ngày       tháng      năm 2011
 
 
 
 
 
 

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Thu Hiền

Nguồn tin: Ban giám hiệu

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây