Trang nhất » Tin Tức » Văn học - Nghệ thuật

Một vài kinh nghiệm phân tích thơ trữ tình.

Thứ hai - 17/07/2017 16:44

Một vài kinh nghiệm phân tích thơ trữ tình.

CÁC YÉU TỐ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CẦN CHÚ Ý
KHI PHÂN TÍCH THƠ TRỮ TÌNH
 
I/ ĐẶC TRƯNG CỦA THƠ TRỮ TÌNH VÀ MỘT SỐ LỖI CẦN TRÁNH KHI PHÂN TÍCH THƠ TRỮ TÌNH:
          Thơ là một hình thái nghệ thuật đặc biệt. Hệ thống cảm xúc, tâm trạng và cách thể hiện tình cảm, cảm xúc được xem như là đặc trưng nổi bật của thơ trữ tình. Trong các tác phẩm thuộc các thể loại như văn xuôi tự sự, kịch… cũng có cảm xúc, tâm trạng, nhưng cách thể hiện thì rất khác so với thơ trữ tình. cảm xúc của tác giả có trong các thể loại văn học kể trên là thứ cảm xúc được thể hiện một cách gián tiếp thông qua hệ thống hình tượng nhân vật, các sự kiện xã hội và diễn biến của câu chuyện…. Trái lại, trong thơ trữ tình, tác giả bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình. Rõ ràng khi đọc đoạn thơ:
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
 Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
(Tế Hanh, Quê hương)
người đọc cảm nhận được rất rõ tấm lòng và tình cảm nhớ nhung da diết của nhà thơ Tế Hanh đối với quê hương, nơi ông đã sinh ra, lớn lên và gắn bó một thời. Ở đây nhà thơ công khai và trực tiếp nói lên những tình cảm, suy nghĩ của chính mình. Khác với cách thể hiện tình cảm trong thơ, chúng ta hỹa đọc đoạn văn sau:
          “Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay:
  • Con Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!
  • Cụ bán rồi?
  • Bán rồi! Họ vừa bắt xong.
Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước…
  • Thế nó cho bắt à?
Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngọeo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…
(Nam Cao, Lão Hạc)
          Người kể chuyện ở đây xưng tôi, nhưng tôi đây là ông giáo chứ không phải là Nam Cao. Nhà văn hoàn toàn không xuất hiện mà luôn giấu mình đi. Trong trang sách chỉ có ông giáo kể lại câu chuyện. Như thế phải qua cách kể chuyện và miêu tả của nhân vật ông giáo về nỗi ân hận, đau khổ đến cùng cực của lão Hạc, chúng ta mới thấy được tấm lòng thông cảm, thái độ trân trọng mến yêu của Nam Cao đối với nhân vật này.
          Trong nhiều bài thơ trữ tình, nhà thơ xưng “ta”, chẳng hạn:
Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi”
(Tố Hữu, Khi con tu hú)
hoặc nhiều khi không thấy xưng “tôi”, xưng “ta” gì cả, mà chỉ thấy một ai đó đạng lặng lặng kể, tả và tâm sự, tâm tình, chẳng hạn:
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(Vũ Đình Liên, Ông đồ)
Trong trường hợp như thế, người xưng “ta” hoặc không xưng gì cũng đều chính là nhà thơ. Nghĩa là sau câu thơ vẫn thấy hiện lên rất rõ tấm lòng và tình cảm sâu nặng của tác  giả. Có những trường hợp nhà thơ mượn lời một nhân vật nào đó, nhập vai vào một ai đó mà thổ lộ tam tình (người ta gọi là trữ tình nhập vai) thì thực chất nhân vật trữ tình đó cũng chính là tác giả. Thế Lữ mượn lời con hổ trong vườn bách thảo để dốc bầu tâm sự của hính ôn về nỗi chán ghét cái xã hội giả dối, nghèo nàn, nhố nhăng, ngớ ngẩn đương thời; để nói lên khát vọng tự do, khát vọng về cái thời một đi không trở lại… Trong trường hợp này, khi ông viết:
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa
Thì “ta” là con hổ và cũng chính là Thế Lữ.
          Phân tích thơ trữ tình thực chất là chỉ ra tiếng lòng sâu thẳm của chính nhà thơ. Nhưng tiếng lòng ấy lại được thể hiện rất cô đọng và hàm xúc bằng một hình thức nghệ thuật độc đáo - nghệ thuật ngôn từ. Tiếp xúc với một bài thơ trữ tình trước hết là tiếp xúc với các hình thức nghệ thuật ngôn từ này. Nhà thơ gửi lòng mình qua những con chữ, trong những con chữ và các hình thức biểu đạt độc đáo khác. Tất cả thái độ sung sướng, hả hê, bõ hờn của NGuyễn Khuyến đối với tên quan tuần mất cướp được gửi qua chữ “lèn” trong câu thơ:  “Tôi nghe kẻ cướp  nó lèn ông”. Tiếng kêu đau đớn, đột ngột của nhà thơ Tố Hữu trước sự ra đi của chú bé liên lạc được thể hiện qua chữ “Thôi rồi” và hình thức gãy nhịp của câu thơ :
Bỗng lòe chớp đỏ
Thôi rồi, Lượm ơi!
(Lượm)
Như thế, phân tích thơ trữ tình trước hết phải xuất phát từ chính các hình thức nghệ thuật ngôn từ mà chỉ ra vai trò và tác dụng của chúng trong việc thể hiện tình cảm, thái độ nhà thơ.
          Nắm chắc đặc điểm và yêu cầu trên, chúng ta cũng sẽ tránh được các lỗi dễ mắc trong việc phân tích và cảm thụ thơ trữ tình. Trong các bài phân tích, bình giảng thơ trữ tình, học sinh thường mắc một số lỗi sau đây:
  1. Chỉ phân tích nội dung và tư tưởng được phản ánh trong bài thơ, không hề thấy vai trò của hình thức nghẹ thuật. Đây thực chất chỉ là diễn xuôi nội dung bài thơ ra mà thôi.
  2. Có chú ya đến các hình thức nghệ thuật, nhưng tách rời các hình thức nghệ thuật ấy ra khỏi nội dung (thường là gần đến kết bài mới nói qua một số hình thức nghệ thuật được nhà thơ sử dụng trong bài)
  3. Suy diễn một cách máy móc, gượng ép, phi lí các nội dung và vai trò, ý nghĩa của các hình thức nghệ thuật trong bài thơ. Nghĩa là nêu lên các nội dung tư tưởng, tình cảm không có trong bài; phát hiện sai các hình thức nghệ thuật hoặc “bắt ép” các hình thức này phải có vai trò tác dụng nào đó trong khi chúng chỉ là những hình thức bình thường.
 
Tóm lại, để phân tích thơ trữ tình có cơ sở khoa học, có sức thuyết phục phải cần đến rất nhiều năng lực, nhưng trước hết là người phân tích cần nắm được một số hiònh thức nghệ thuật ngôn từg mà các nhà thơ thường vận dụng để xây dựng nên tác phẩm của mình. Đây chíh là cơ sở đáng tin cậy nhất để người đọc mở ra được “cánh cửa tâm hồn” của mỗi nhà thơ ở mỗi bài thơ.
 
II/ MỘT SỐ YẾU TỐ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CẦN CHÚ Ý KHI PHÂN TÍCH THƠ TRỮ TÌNH:
          Đọc tác phẩm văn học trước hết chúng ta tiếp xúc với những hình thức thể hiện cụ thể của ngôn từ nghệ thuật. Đó chính là những dấu câu và cách ngắt nhịp, là vần điệu, âm hưởng, nhạc tính, là từ ngữ và hình ảnh, là câu và sự tổ chức đoạn văn, là văn bản và thể loại của văn bản… Phân tích tác phẩm văn học không được thoát li văn bản có nghĩa là trước hết phải biết bám sát các hình thức biểu hiện trên của  ngôn từ nghệ thuật, chỉ ra vai trò và ý nghĩa của chúng trong việc thể hiện nội dung.
 
1/ Nhịp thơ:
          Nhịp điệu có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thơ trữ tình. Nó giúp nâng cao khả năng biểu cảm, cảm xúc. Phân tích thơ trữ tình, không thể không chú ý phân tích nhịp điệu. Để xác định được nhịp điệu của từng bài thơ, ngoài việc đọc từng câu thơ cho ngân vang âm điệu và làm bừng sáng hình ảnh thơ, việc nắm được đặc điểm chung về nhịp điệu của từng thể loại cũng là điều rất cần thiết. Thường thường, nhhịp diệu của thơ lục bát uyển chuyển, mềm mại, thanh thoát; nhịp thơ thất ngôn bát cú hài hòa, chặt chẽ; nhịp cuả thơ tự do, thơ hiện đại rất phóng khoáng, phong phú.
          Trong thơ trữ tình, cùng với dấu câu, cách ngắt nhịp cần được xem là một từ đa nghĩa, một từ đặc biệt trong vốn ngôn ngữ chung  của nhân loại. Chúng ta đều biết rằng trong những tình huống giao tiếp thông thường của cuộc sống, im lặng lắm khi lại nói được rất nhiều: khi căm thù tột đỉnh, lúc xao xuyến bâng khuâng, khi cô đơn, buồn bã, lúc xúc động dâng trào… Những cung bậc tình cảm này nhiều khi không thẻ mô tả bằng chữ nghĩa. Sự ngắt nhịp là một trong những phương tiện  hữu hiệu để thể hiện “sự im lặng không lời”, tạo nên “ý tại ngôn ngoại”, tính hàm nghĩa và gợi ra những điều mà từ không nói hết. Tâm trạng nhà thơ chi phố trực tiếp cách tổ chức, vận hành nhịp điệu của bài thơ. Với cảm xúc ào ạt, sôi nổi, đầy hứng khởi trước khí thế lao động sản xuất của miền Bắc thời kis bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Tố Hữu có những câu thơ với nhịp điệu nhanh mạnh, khỏe khoắn, linh hoạt và sôi nổi:
Đi ta đi! Khai phá rừng hoang
Hỏi núi non cao, đâu sắt đâu vàng?
Hỏi biển khơi xa, đâu luồng cá chạy?
Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Chảy
Hỏi đâu thác nhảy, cho điện quay chiều?
(Bài ca mùa xuân 1961)
          Trước hiện thực thay đổi ơe vùng quê, nơi mình từng hoạt động bí mật, Tố Hữu hồi tưởng những tháng ngày đã qua với những xúc động bồi hồi. Tâm trạng nôn nao, xao xuyến của một người lâu ngay quay trở lại chốn cũ đầy kỉ niệm đã được ông thể hiện bằng một nhịp điệu chậm, sâu lắng, phù hợp với sự hồi tưởng và chiêm nghiệm:
Mười chín năm rồi. Hôm nay lại bước
Đoạn đường xưa, cát bỏng lưng đồi.
Ôi có phải sóng bồi thêm bãi trước
Hay biển đau xưa rút nước xa rồi?
(Mẹ Tơm)
          Câu thơ của Chế Lan Viên “Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi” nhiều người đọc một mạch, bỏ quên cái dấu chấm giữa dòng thơ, đã làm mất đi bao sức gợi cảm sâu lắng, thiết tha, diễn tả một sự tiếc nuối, đau đớn đến xót xa trong lòng người ra đi khi phải rời xa Tổ Quốc.
          Đẻ ngắt nhịp người ta thường dùng dấu câu, những nhiều khi không có dấu câu. Trong trường hợp này, ta cần phải thông nghĩa, hiểu ý mới ngắt nhịp đúng. Câu thơ của Tố Hữu “Càng nhìn ta lại càng say”, HS thường đọc: Càng nhìn/ ta lại càng say (2/4), nhưng thực ra phải đọc: Càng nhìn ta / lại càng say (nhịp 3/3) vì ở đây ý thơ muốn thể hiện là : ai đó (thế giới) càng nhìn ta (Việt Nam) thì càng say lòng chứ không phải ta tự say ta. Cũng như thế câu thơ của Xuân Diệu: “Một chiếc xe dạp băng vào bóng tối”, nếu không chú ý ta sẽ đọc thành: Một chiệc xe đạp / băng vào bóng tối (nhịp 4/4), nhưng đúng ra phải đọc là: Một chiếc xe / đạp băng vào bóng tối (nhịp 3/5), ở đây điều mà Xuân Diệu muốn nhấn mạnh là hành động “đạp băng” chứ không phải “chiếc xe đạp.”
          Trong nhiều trường hợp, sự xuống dòng liên tục tạo nên sự gãy nhịp liên tục, đột ngột của tác giả có một dụng ý hay đúng hơn có một ý nghĩa, một tác dụng rất sâu sắc trong việc thể hiện nội dung. Câu thơ: “Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt” (9 chữ) được nhà thơ Hữu Loan “xé” thành 6 dòng thơ:
Màu tím hoa sim
 tím
chiều
 hoang
biền
 biệt
Ở bài thơ này, nhiều câu thơ bị cắt ra như thế. Cả bài thơ vỡ vụn đã thể hiện được nỗi đau tan nát, tiếng khóc đứt đoạn, nghẹ tắc, hạnh phúc tan thành nhiều mảnh, đứt ra nhiều đoạn, không có gì hàn gắn nổi.
          Tóm lại, khi tiếp  xúc với các tác phẩm văn học, nhất là khi đọc bằng mắt, ta cần lưu ý đến hình thức dấu câu và xem cách ngắt nhịp của tác giả có gì đặc biệt. Làm như thế, trước hết là để đọc cho đúng, cho diễn cảm và sau đó hãy phân tích và chỉ ra ý nghĩa cũng như tác dụng của hình thức ấy trong việc biểu hiện nội dung.
 
2/ Vần thơ:
          Tiếng Việt rất giàu nhạc tính. Hệ thống vần điệu và thanh điệu là những yếu tố cơ bản tạo nên tính nhạc của tiếng Việt nói chung và ngờnt văn học nói riêng, nhất là thơ. Vần hiểu một cách đơn giản là một âm không có thanh điệu do nguyên âm hoặc nguyên âm kết hợp với phụ âm tạo nên. Ví dụ: các tiếng “lan, tan, man, tàn…” đều có chung một vần “an” ; hoặc “mẹ, nhẹ, té, xẻ…” có chung một vần “e”. Như thế, gieo vần trong thơ là sự lặp lại các vần hoặc những vần nghe giống nhau giữa các tiếng ở những vị trí nhất định. Đó là sự phối hợp âm thanh trong từng câu và trong cả bài; là sự cộng hưởng của các âm có cùng một vần và cùng thanh bằng hoặc thanh trắc. Ví dụ:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời nghìn thu
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.
Hỡi Người xưa của ta nay
Khi vui xin lại so dây cùng Người
(Tố Hữu, Kính gửi cụ Nguyễn Du)
          Vần của các câu được hiệp vần với nhau trong đoạn thơ trên là sự hài hòa trên cùng một âm vực cao thấp, một trường độ âm thanh phát ra. Đó là sự hài hòa có được từ việc phối âm giữ các tiếng trong một cặp câu lục bát. Xét từng cặp câu chúng ta thấy có sự  hòa âm giữa câu 1 và 2, giữa câu 3 và 4, giữa câu 5 và 6, nhờ vào những âm giống nhau giữa tiéng thứ sáu câu lục và tiếng thứ sáu câu bát. Âm giống nhau là do vần có chung thanh bằng ( trời - lời; du – ru , nay – dây) . Và có cùng chung phần vần (ời- ời; u – u) hoặc phần vần na ná nhau (ay – ây). Với sự  hòa âm  này, các câu thơ như níu kéo, lưu giữ lấy nhau trong từng đoạn hay cả bài thơ. Một chỉnh thể âm thanh hài hòa uyển chuyển do những vần có thanh bằng liên kết với nhau như tạo ra sự trầm lắng về âm điệu cũng như hồn thơ góp phần không nhỏ trong việc biểu đạt có hiêu quả tâm trạng thương cảm, mến phục và trân trọng của Tố Hữu đối với thi hào NGuyễn Du.
          Căn cứ vào cấu trúc âm thanh - sự hoà âm của vần người ta chia thành vần chính và vần thông. Vần chính là vần có âm giống nhau:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời nghìn thu.
(Tố Hữu, Kính gửi cụ Nguyễn Du)
Vần thông là vần na ná như nhau:
Nhân tình nhắm mắt, chưa xong
Biết ai hậu thế khóc cùng Tố Như?
(Tố Hữu, Kính gửi cụ Nguyễn Du)
          Căn cứ vào vị trí các tiếng hiệp vần với nhau, người ta chia thành vần lưng và vầ vần chân. Vần lưng là vần đứng giữa câu. Trong các câu thơ trên, tiếng thứ 6 (lời, ru, đây, cùng) của câu bát hiệp vần với tiếng cuối (trời, du, nay, xong) của câu lục. Vần chân là vần ở cuối câu:
Chẳng phải rằng ngây chẳng phải đần,
Bởi vì nhà khó hóa bần thần.
Mấy đời thầy kiện mà thua mẹo,
Nghĩ phận thằng cùng phải biết thân.
(Nguyễn Công Trứ, Cảnh nghèo)
          Trong cách phân chia vần theo vị trí của các tiếng hiệp vần với nhau, lại còn có thể chia ra các loại:
+Vần liền ( Vd như đoạn thơ trích dẫn trên của Tố Hữu, bài thơ Thề non nước của Tản Đà)
+Vần cách:
Trời đất cho ta một cái tài,
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.
Dở duyên với rượu khôn từ chén,
Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời.
(Nguyễn Công Trứ, Cầm kì thi tửu)
+Vần hỗn hợp: (Vd như Thu điếu của Nguyễn KHuyến, Cảnh nghèo của Nguyễn công Trứ, Trang giang của Huy Cận)
          Một trong những tác dụng quan trọng của vần là tạo nên âm hưởng vang ngân trong thơ, từ đó mà diễn đạt và thể hiện nội dung. Đọc đoạn thơ sau:
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng  nắng tràn
Anh đi nghe tiếng người xưa vọng
Một giọng thơ ngâm, một giọng đàn
Ở đây vần chính là “an” (tan, tràn, đàn) nhưng bên cạnh đó, nhà thơ còn sử dụng rất nhiều vần khác (lan/ tan, dương / sương, trắng/ nắng, vọng / giọng). Trong 4 dòng thơ, hàng loạt các vần liên tiếp xuất hiện, tạo nên một khúc nhạc ngân nga, diễn tả một niềm vui phơi phới như muốn hát lên của nhà thơ khi đứng trước mùa xuân của đất nước Ba Lan.
          Bên cạnh vần điệu, tiếng Việt còn rất giàu thanh điệu. Với 6 thanh (huyền, sắc, hỏi, ngãc, nặng và thanh không), chúng ta có thể nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói, tạo nên sự lên bổng, xuống trầm. Ví dụ: “sang” là một âm tiết mang thanh không. Lần lượt thay các thanh ta có: sáng, sảng, sàng, sạng, sãng. Người ta chia 6 thanh trên làm hai loại bổng và trầm hoặc bằng và trắc. Laọi vần bằng do thanh huyền và thanh không đảm nhận, vần trắc do các thanh còn lại thể hiện (sắc, nặng, hỏi, ngã). Nhìn chung những vần bằng thường diễn tả sự nhẹ nhàng bâng khuâng, chơi vơi… còn vần trắc thường diễn tả sự trúc trắc, nặng nề, khó khăn, vấp váp… Về nguyên tắc, bình thường trong các câu thơ, những vần bằng, trắc đan xen nhau, phối hợp với nhau, nhưng khi mô tả, khắc sâu một ấn tượng, một cảm xúc, một tâm trạng theo cung bậc tình cảm nào đó các nhà thơ thường sử dụng liên tiếp một loại vần.
          Những câu thơ sau dùng toàn vần bằng tạo nên một âm hưởng rất đặc biệt:
Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi…
(Xuân Diệu)
Mùa xuân cùng em lên đồi thông
Ta như chim bay trên tầng không
(Lê Anh Xuân)
Ngược lại, có những câu thơ, số lượng vần trắc xuất hiện rất nhiều, cũng tạo nên âm hưởng lạ, cần chú ý:
Vó câu khấp khểnh bánh xe gập gềnh
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
(Quang Dũng)
Có khi hai loại vần này lại sóng đôi nhằm diễn đạt một tâm trạng phức tạp:
Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương
(Tản Đà)
Câu trên 5 thanh trắc liên tục diễn tả một tâm trạng như bị dồn nén, uất ức, nghẹn tắc. Câu dưới lại toàn vần bằng vừa như một tâm sự, buông thả, phó mặc vừa như một tiếng thở dài.
          Tạo nên nhạc tính của thơ thực ra không chỉ có vần và hệ thống thanh điệu mà ngay cả các âm trong mỗi tiếng cũng có những giá trị nhất định. Theo Đinh Trọng Lạc: Âm I gợi sự ngân dài: Đi ta đi khai phá rừng hoang” (Tố Hữu). Âm u gợi sự u sầu, bâng khuâng: “Hoa cánh trắng dắt tay vào lối cũ” (Thanh Thảo). Âm a gợi sự tươi vui, bao la: “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” (Phạm Tiến Duật). Âm r gợi sự hãi hùng, run sợ: “Rung rinh bạc cửa tre gầy” (Tố Hữu) hoặc “Những luồng run rẩy rung rinh lá” (Xuân Diệu)
          Nhà văn Nguyễn Tuân đã nhận xét rất schính xác về các từ mở đầu bằng phụ âm kh , như: khú, khai, khắm, khắc nghiệt, khắt khe, khấp khểnh, khủng khiếp, khắm lằm lặm, khét lèn lẹt, khai mò mò… Ông viết: “Tôi có ấn tượng là phụ âm kh hay nhấn vào khía tiêu cực của những biểu hiện sự sống… Những từ ấy rất liên quan tới ngũ giác của người Việt Nam… nhắc ddeens những việc, những trạng thái không được vừa mũi, vừa mắt, vừa tai, không được “vừa lòng” (Chuyện nghề)
         
Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ nữa để minh họa cho tính nhạc của ngôn ngữ Việt trong thơ. Khi đọc, phân tích tác phẩm văn học (nhất là thơ) cần hết sức chú trọng vấn đề này. Một khi thấy âm điệu, âm hưởng, nhạc điệu của câu thơ không bình thường, có sự chuyển đổi (dĩ nhiên là phải tạo nên được hiệu quả thẩm mĩ nhất định) thì hãy tập trung phân tích chỉ ra giá trị (vai trò và tác dụng) của chúng trong việc thể hiện nội dung.
 
 
3/ Từ ngữ và các biện pháp tu từ:
          Đây là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của hình thức chất liệu ngôn từ. Bởi vì mọi nội dung cần thể hiện của tác phẩm văn học không thể có cách nào khác là nhờ vào hệ thống từ ngữ này. Các phương tiện như dấu câu, nhịp điệu, ngữ âm ở trên cũng chỉ có ý nghĩa khi nằm trong một văn bản mà từ ngữ là nền tảng. Nhà văn muốn mô tả, tái hiện hiện thực phải thông qua từ ngữ. Muốn nói đến nỗi  lòng của mình, tình cảm và tư tưởng của mình cũng phải thông qua từ ngữ. Muốn đánh giá được nhà văn viết về những điều đó như thế nào lại cũng phải thông qua chữ nghĩa trong tác phẩm… “Văn học là nghệ thuật của ngôn từ” chính là như vậy. Do tầm quan trọng ấy mà người ta coi lao động của nhà văn là thứ lao động chữ nghĩa, nhà văn là phu chữ… có thể nói, ngôn từ là một đặc trưng quan trọng và nổi bật của văn học. Vì thế ta cần lưu ý một số điểm sau:
          Thứ nhất: Phân tích tác phẩm văn học không thể thoát li và bỏ qua yếu tố từ ngữ. Muốn phân tích tốt từ ngữ, trước hết phải nắm vững nghĩa của tà (nghĩa chung và nghĩa trong văn bản cụ thể) sau đó luôn luôn suy nghĩ để trả lời các câu hỏi:
  • Tại sao tác giả dùng từ này mà không dùng từ khác?
  • Tại sao từ ngữ này lại xuất hiện nhiều như thế? Có bao nhiêu từ đồng nghĩa với từ ấy? Có thể thay thế từ ấy bằng một từ ngữ khác được không?
  • Trong câu ấy, đoạn ấy, những từ ngữ nào cần chú ý phân tích?
Ở đây cũng cần lưu ý, trong một đoạn, một bài văn, bài thơ không phải từ nào, câu nào cũng đáng phân tích, cũng có giá trị như nhau, chính vì thế biết phát hiện những từ ngữ đáng phân tích cũng là một năng lực, một trình độ. Trong thực tế không ít rơi vào tình trạng hoặc là phân tích tất cả, câu nào cũng phân tích, từ nào cũng khen hay, hoặc là từ ngữ đáng phân tích thì lại bỏ qua, từ không đáng dùng thì say sưa tán tụng. Trong trường hợp phân tích những tác phẩm văn học  dịch, phải thật thận trọng khi phân tích từ ngữ. Bởi vì những từ được đưa ra bình giá chưa chắc đã phải là những từ ngữ mà tác giả dùng trong nguyên bản.
          Thứ hai: Người ta nói nhiều đến việc phân tích hình ảnh trong tác phẩm văn học . bởi vì cách nói của văn học, cách thể hiện của văn chương là cách nói, cách viết bằng hình ảnh. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng hình ảnh trong tác phẩm văn học là gì, nếu không phải là do hệ thống từ ngữ tạo nên. Vì thế phân tích hình ảnh thực ra là phân tích từ ngữ. Câu thơ của Nguyễn Du tả chan dung Tú Bà:
Thoắt trông lờn lợt màu da
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao
(Truyện Kiều)
vẽ chính xác thần thái của một mụ chủ nhà chứa, bọn buôn thịt bán người. Ta cũng thấy rõ thái độ của tác giả đối với loại người đó. Chữ “lờn lợt” lột tả được rõ nét nhất cái thần thái của Tú Bà! Thật khó diễn tả bằng những từ ngữ khác: vừa bóng nhẫy, vừa mai mái hay vàng bủng chăng? Có lẽ chỉ có thể nói như Nguyễn  Công Hoan sau này về một bộ mặt cũng thuộc loại tú Bà: bộ mặt “thiếu vệ sinh”. Có nhà phê bình cho rằng, đọc câu thơ ấy, ta có cảm giác lợm giọng là vì thế. Còn hai chữ “ăn gì” lại dường như muốn liệt mụ chủ chứa này vào một giống loài gì đó, không phải giống người. Bởi vì giống người thì ăn cơm, ăn gạo, ăn thịt, ăn cá… chứ ăn gì.
          Hệ thống từ ngữ gợi hình, cảm giác trong tiếng Việt rất phương ohú, đa dạng. Ví dụ:
+Gợi về tâm trạng: xao xuyến, bâng khuâng, phân vân…
+Gợi về thị giác như: la đà, lơ lửng, chấp chới…
+Gợi về thính giác: sầm sập, rì rào, thánh thót…
+ Gợi về vị giác : mặn chát, chua lòm, ngọt lịm…
+ Gợi về xúc giác: lạnh ngắt, nóng bỏng, xù xì…
Chính do sức gợi này mà nhà văn Nguyễn Tuân tâm sự như khuyên nhủ các nhà văn khi cầm bút:
“Đã nghĩ kĩ rồi mới cầm bút mà viết ra. Nhưng khi đã viết ra rồi, chưa có nghĩa là xong hẳn. Viết ra những mà đọc lại… Tự mình duyệt lấy lời viết của mình… Cặp mắt soi xuống dòng trang vẫn là giữ vai trò cầm trịch… Nhưng cặp mắt chưa đủ để lọc hết mọi bụi bặm vẫn còn bám theo cái tiếng vừa phát biểu của mình. Cho nên phải dùng cả cái tai của mình nữa… Ngoài việc soi lắng, hình như còn phải ngửi lại, nếm lại cái lời mình viết ra kia, trước khi bưng nó ra cho người khác thưởng thức… Có khi lại như chính lòng bàn tay mình phải sờ lại những góc cạnh câu viết của mình, xem lại có nên cứ gồ ghề chân chất như thế, hay là nên gọt nó tròn trĩnh đi thì nó dễ vào lỗ tai người tiêu thụ hơn…”
(Về tiếng ta, trong Tuyển tập Nguyễn Tuân, NXB văn học, Hà Nội, 1982)
 
Thứ ba: Để tạo cách nói, cách viết có hình ảnh, gợi hình tượng bằng từ ngữ, các nhà văn có thể vận dụng nhiều cách: khi thì dùng từ láy:
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
(Nguyễn Khuyến)
hoặc:
Nỗi niềm chi rứa Huế ơi,
Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên.
(Tố Hữu)
 
Khi thì dùng những từ ngữ tượng hình, tượng thanh:
Thuyền câu thấp thoáng dờn trên vách
Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà
(Nguyễn Khuyến)
          Ngay cả trong văn xuôi cũng vậy, hình ảnh lão Hạc được Nam Cao khắc hoạ bằng một đoạn văn ngắn với một số từ rất gợi hình tượng: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc” (Lão Hạc)
          Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc cũng được các nhà văn sử dụng rất hiệu quả trong việc miêu tả hiện thực:
Cỏ non xanh dợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
(Nguyễn Du)
hoặc :
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt
(Nguyễn Khuyến)
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
(Hồ Xuân Hương)
Trắng phau nội cỏ cừu phơi tuyết
(Tố Hữu)
Trông lên mặt sắt đen sì
                             (Nguyễn Du)
Hệ thống tính từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt hết sức tinh diệu. Đã khi nào ta thử thống kê tất cả các màu trắng, đỏ hay xanh chưa? Cứ thử đi sẽ thấy từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt thật kì lạ. Này nhé, nếu là màu trắng, ta có: trắng bệch, trắng toát, trắng bong, trắng tinh, trắng nõn, trắng xoá, trắng phau, trắng ngần, trắng muốt, trắng ngà, trắng hếu, trắng dã, trắng nhởn, trắng nhợt, trắng bóc, trắng lốp, trắng nuột, trắng ởn, trắng phếch, trắng trẻo, trắng trong…
Nếu là màu xanh lại có: xanh um, xanh nhạt, xanh thẫm, xanh non, xanh lợt, xanh lè, xanh lét, xanh rờn, xanh rì, xanh lam, xanh biếc, xanh lơ, xanh mét, xanh ngắt, xanh ngăn ngắt, xanh rớt, xanh xao…
Với màu đỏ, ta có thể kể: đỏ au, đỏ choét, đỏ chói, đỏ chót, đỏ chon chót, đỏ nọc, dỏ gay, đỏ hoe, đỏ hoen hoét, đỏ hỏn, đỏ hon hỏn, đỏ kè, đỏ khé, đỏ nhừ, đỏ khè, đỏ loét, đỏ lòm, đỏ lừ, đỏ lự, đỏ lựng, đỏ ngầu, đỏ ối, đỏ quạch, đỏ rực, đỏ tươi, đỏ ửng, đỏ cạch…
Trong tiếng việt, mỗi từ trên đều có một sắc thái biểu cảm đôi khi rất khác nhau, ví như trắng toát là thứ trắng rất chói mắt, trắng bệchtrắng mất sinh khí, trắng bong trắng như mới, trắng tinhtrắng nguyên chất, trắng xoátrắng rộng khắp một vùng, trắng phautrắng sạch sẽ, trắng ngầntrắng sạch và trong, trắng muốttrắng sạch mà trơn nhẵn, trắng ngàtrắng quý phái, trắng hếutrắng phô ra thô bỉ, trắng dã là chỉ màu mắt kẻ gian giảo, trắng nhởntrắng lố bịch (chỉ răng hoặc mắt)… Và như thế sẽ là rất khó khi dịch những câu thơ sau ra một ngôn ngữ khác sao cho lột tả hết được các màu sắc ấy:
+Cầu trắng phau phau đôi ván ghép (Hồ Xuân Hương)
+Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ (Bà Huyện Thanh Quan)
+ Tiếc thay hạt gạo trắng ngần (Ca dao)
+ Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan (Nguyễn Đình Chiểu)
+ Có phải thịt da em mềm mại trắng trong (Lâm Thị Mĩ Dạ)
 + Hòn đá xanh rì lún phún rêu (Hồ Xuân Hương)
+ Cỏ non xanh dợn chân trời (NGuyễn Du)
+ Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt (Nguyễn Khuyến)
+ Xanh om cổ thụ tròn xoe tán (Bà huyện Thanh Quan)
+ Tháng tám mùa thu xanh thắm (Tố Hữu)
+ Cửa son đỏ loét tùm hum nóc (Hồ Xuân Hương)
+ Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe (NGuyễn Khuyến)
+ Má đỏ au lên đẹp lạ thường (Hàn Mặc Tử)
+ Đường quê đỏ rực cờ hồng (Tố Hữu)
 
          Thứ tư: Ngôn từ văn học là loại ngôn từ đã được chắt lọc từ ngôn ngữ đời thường, được nâng cấp, sửa sang, làm cho nó càng óng ả, giàu đẹp hơn. Các biện pháp tu từ chính là những phương tiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ trang điểm cho ngôn từ văn học. Có rất nhiều biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, điệp ngữ, so sánh… Theo Đinh Trọng Lạc, có tới 99 phương tiện và biện pháp tu từ trong tiếng Việt. Tất cả những cách ấy đều nhằm mục đích giúp người nói, người viết có nhiều cách diễn đạt hay hơn, phong phú hơn và do vậy hiệu  quả hơn. Phân tích các biện pháp tu từ tức là chỉ ra tính hiệu quả của cách viết, cách nói ấy, vai trò và tác dụng của chúng trong việc miêu tả, biểu đạt chứ không phải đơn thuần là chỉ gọi được tên, liệt kê các biện pháp mà nhà văn đã dùng.
 
4/ Không gian và thời gian trong thơ trữ tình:
          Không gian trong thơ trữ tình là nơi tác giả - cái tôi trữ tình hoặc nhân vật trữ tình xuất hiện để thổ lộ tấm lòng của ình trước mọi người và đất trời.
          Trong tiếng Việt có rất nhiều từ ngữ để nhà văn thể hiện không gian. Trước hết là bằng hệ thống từ chỉ vị trí và tính chất như: trên, dưới, trước, sau, trong, ngoài, bên phải, bên trái, lên, xuống… rồi: mênh mông, bát ngát, rộng, hẹp, thăm thẳm, mịt mù, khúc khuỷu, quanh co…
          Không gian thường gắn với các địa điểm chỉ nơi chốn: như bến đò, cây đa, mái đình, giếng nước, núi cao, rừng thẳm, biển sâu, trời rộng, sông dài… nhiều địa danh đax trở thành những không gian tượng trưng trong văn học như: Tiêu Tương, Tầm Dương, Cô Tô, Xích Bích, Tây Thiên, Địa ngục, Thiên đường, Bồng lai, Tiên cảnh, cõi Phật, Suối vàng…
          Khi đọc tác phẩm văn học, ta cần chú ý xem nhà văn mô tả không gian ở đây có gì đặc biệt, không gian ấy có ý nghĩa gì và nói được nội dung gì sâu sắc qua không gian đó. Ví dụ , khi dân gian viết:
Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng mênh mông bát ngat,
Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông
Là tác giả dân gian đã tạo ra được một không gian đẹp, rộng mở, khác hẳn với không gian nhỏ hẹp, trắc trở, cách ngăn trong câu ca dao này:
Ai đưa em tới chốn này
Bên kia mắc núi, bên này mắc sông
Không gian trong câu ca dao trên là không gian của một tâm hồn thảnh thơi, đang náo nức, rạo rực, phơi phới say sưa của một người con gái vào tuổi dậy thì:
Thân em như chén láu đòng đòng
Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai
Còn không gian trong câu thơ dưới là không gian của một tâm trạng bế tắc, một tiếng thở dài ngao ngán.
          Không gian thường gắn với điểm nhìn, điểm quan sát mô tả của tác giả. Câu thơ :
“Trông lên mắt sắt đen sì” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, cho thấy người viết đứng phía dưới nhìn lên. Nhà thơ Tố Hữu cho rằng như thế. Nguyễn Du đã đứng về phía quần chúng lao động để quan sát bọn thống trị. Cũng như thế chữ “kìa” trong câu “Kìa hội Thăng Bình tiếng pháo reo” của Nguyễn Khuyến cho ta thấy ông như đứng tách ra khỏi cái Hội Tây ồn ào, đầy những trò nhăng nhít do bọn thực dân bày ra mà quan sát và ngẫm nghĩ, mà căm giận, mà đau đớn, chua xót…
          Đi liền với không gian nghệ thuật là thời gian nghệ thuật, bởi vì bao già một hành động cũng diễn ra ở một địa điểm, vào một thời gian nhất định. Có điều khi đọc tác phẩm văn học ta quên đi thời gian hiện thực, nhập vào tác phẩm, sống cùng với nhân vật, cùng chứng kiến con người và sự việc theo thời gian trong tác phẩm. Vì thế đang đọc giữa ban ngày mà cứ tưởng như đêm khuya lắm rồi: quên hiện tại mà cứ nghĩ mình đang ở “ngày xửa ngày xưa” vào “đời Hùng Vương Thứ mười tám” hay “năm Gia Tĩnh Triều Minh”. Do được thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật, nên thời gian trong tác phẩm văn học được cảm nhận và mô tả rất linh hoạt. Nguyễn Du đã dồn bốn mùa trong một câu thơ:
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Ngược lại, Ai-ma-tốp mô tả “Một ngày dài hơn thế kỉ”.
          Thời gian trong cuụoc đời là thời gian tuần tự, còn trong tác phẩm văn học, thời gian có thể đảo ngược quá khứ, xen lẫn ngày hôm nay và những ngày đã xa khuất ngàn năm trước, cũng như tưởng tượng ra cả ngày mai chưa đến. Thời gian trong tác phẩm văn học là thời gian tâm lí, không trùng khít với thời gian ngoài đời, vì thế không nên hiểu thời gian ấy một cách máy móc, cứng nhắc và áp đặt. Khi nhà thơ viết: hôm qua, hôm nay, ngày mai, dạo này, tháng trước, năm sau, dạo ấy, vào một đêm hè… thì không nên cố tìm xem đó là thời điểm cụ thể nào trong cuộc đời. Nếu như Hoàng Lộc viết:
Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ
(Viếng bạn)
Thì rõ ràng không cần biết hôm quahôm nay là ngày nào, tháng nào mà chỉ biết sự việc xảy ra nhanh quá, bất ngờ quá, hôm qua mới thế, hôm nay đã thế, khiến người đọc bàng hoàng, xúc động.
          Thời gian nghệ thuật cũng mang tính tượng trưng. Khi nhắc tới ngày mai thường là tượng trưng cho tương lai, như khi Tố Hữu viết:
Ngày mai bao lớp đời dơ
Sẽ tan như áng mây mờ đêm nay
Em ơi tháng rộng ngày dài
Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng.
Hoàng hôn, chiều tà thường tượng trưng cho sự tàn lụi, sự kết thúc, cáo chung buồn bã. Không phải ngẫu nhiên hay do bí từ mà Nguyễn Du đã lặp lại chữ hoàng hônhôn hoàng trong một câu thơ: “Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng” để khái quát cả một đời Kiều đầy chuyện u buồn, tàn tạ. Ta có thể tìm thấy thời khắc này trong thơ Thôi Hiệu: “Quê hương khuất bóng hòng hôn”, trong thơ BÀ Huyện Thanh Quan: “Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn”, trong thơ Huy Cận: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Ngược lại với hoàng hôn là bình minh. Bình minh, rạng đông thường tượng trưng cho cái đang lên, rạng rỡ, tươ sáng. Đó là khi Hồ Chí Minh viết:
Thuyền về trời đã rạng đông
Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi
Là khi Nguyễn Đình Thi viết:
Trán cháy rực nghĩ trời đất mới
Lòng ta bát ngát ánh bình minh.
Mùa xuân thường tượng trưng cho tuổi trẻ, sức sống, giàu sinh lực, như khi Tố Hữu viết:
Trời hôm nay dầu xám ngắt màu đông
Ai cản được mùa xuân xanh tươi sáng
Ai cản được đàn chim quyết thắng
Sắp về đây tắm nắng xuân hồng.
          Có rất nhiều cách thể hiện thời gian trong tác phẩm văn học. Không nhất thiết phải có các từ như sáng, trưa, chiều, tối hay xuân, hạ. thu, đông thì ta mới biết. Trong văn học cổ, một chiếc lá ngô đồng rụng xuống, ấy là mùa thu đã về; một tiếng kêu khắc khoải của chim cuốc báo hiệu hè đã sang. Khi Nguyễn Du tả cảnh:
Cỏ non xanh dợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thì ai chẳng biết đó là mùa xuân. Cũng như vậy đọc câu thơ “Chinh phụ ngâm khúc”:
Thấy nhạn luống những thư phong
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng
Ta đã cảm nhận được cái se sắt rét mướt, run rẩy của mùa đông đang tới. Khi Tố Hữu viết: “Trăng lên, trăng đứng, trăng tàn” cũng là để chỉ thời gian đang trôi di của một đêm và đó cũng có thể hiểu là các thời điểm của một đời người. Đọc câu thơ của Trần Hữu Thung: “Cam ba lần ra trái - Bưởi ba lần ra hoa” ta đều hiẻu thế là thời gian ba năm đã trôi qua.
         
Như thế không gian và thời gian đều có rất nhiều cách thức biểu hiện khác nhau. Đấy chính là chỗ để các nhà thơ thể hiện sự sáng tạo và những cách cảm nhận độc đáo, riêng biệt trong tác phẩm của mình.
 
 
 
 
 
 
 
MỘT SỐ ĐIỂM CẦN CHÚ Ý:
 
+ Thơ có thể có vần, có thể không có vần. Bình thường mỗi đoạn thơ có một vần lặp lại ở các câu thơ, nhưng có đoạn mang nhiều vần khác nhau.
+Những câu thơ, đoạn thơ sử dụng chỉ một hoặc phần lớn một loại thanh là những câu thơ đặc biệt.
+ Khi gặp đoạn thơ mang nhiều vần, hoặc sử dụng thanh đặc biệt, cần chú ý để phân tích, chỉ ra vai trò của chúng trong việc biểu hiện nội dung.
 
+ Khi đọc cũng như khi phân tích đoạn thơ trên, cần chú ý tới các dấu câu. Chú ý vị trí của các dấu câu đó, chúng ta sẽ đọc đúng nhịp thơ hơn.
+ Dấu câu không chỉ để tách ý, tách đoạn và làm rõ nghĩa của thông báo khi viết, mà còn dùng để ngắt nhịp, làm tăng sức biểu cảm cho thơ.
 
+ Trong một bài thơ, câu thơ, không phải chữ nào cũng hay, cũng đắt, khi đọc thơ cần nhận ra được đúng các chữ đó và phân tích cái hay, cái đẹp của chúng. Những chữ dùng hay là những chữ không thể thay thế được.
+ Thơ ca thường sử dụng các biện pháp tu từ. Các biện pháp tu từ hay bao giờ cũng giúp nhà thơ biểu hiện được nội dung một cách sâu sắc, độc đáo.
 
+ Khi phân tích thơ, chỉ phân tích các yếu tố nghệ thuật độc đáo và bao giờ cũng cần chỉ ra vai trò, tác dụng của những yếu tố ấy trong việc thể hiện nội dung.
+ Tránh phân tích tràn lan (yếu tố nào cũng phân tích); tránh suy diễn một cách gượng ép về ý nghĩa và tác dụng của các yếu tố hình thức nghệ thuật.
 
 
BÀI TẬP ÁP DỤNG
Bài 1: Kể ra một số bài thơ trữ tình mà em thuộc trong sách ngữ văn 6,7,8.
Bài 2:
2.1/  Đọc kĩ các đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
(Hồ Chí Minh)
Gậm một khối hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua,
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm
(Thế Lữ)
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đương bạch dương sương trắng nắng tràn
Anh đi nghe tiếng người xưa vọng
Một giọng thơ ngâm, một giọng đàn.
(Tố Hữu)
a/ Hãy chỉ ra các chữ mang vần trong 3 đoạn thơ trên và xác định đó là những vần gì.
b/Cách gieo vần trong đoạn thơ thứ 3 có gì đặc biệt? Cách gieo vần như thế đã giúp gì cho việc biểu hiện nội dung đoạn thơ?
2.2/ Đọc các câu thơ sau đây và trả lời câu hỏi:
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.
(Bích Khê)
Đoạn trường thay lúc phân kì
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
(Nguyễn Du)
Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương.
(Tản Đà)
a/ Thống kê các chữ mang thanh bằng và thanh trắc trong 3 đọn thơ trên. Cách sử dụng các thanh bằng và trắc của các tác giả có gì đặc biệt?
b/ Thanh bằng thương diễn tả những gì nhẹ nhàng, êm ái, bâng khuâng…; ngược lại thanh trắc thương diễn tả những gì trúc trắc, nặng nề… Dựa vào đặc điểm này, hãy chỉ ra tác dụng của thanh bằng, trắc trong việc biểu hiện nội dung ở các câu thơ trên?
Bài 3: Khi đọc bài thơ “Lượm” đến những dòng thơ sau:
Ra thế
Lượm ơi!...
hoặc:
Thôi rồi, Lượm ơi!
Và:                      
Lượm ơi, còn không?
Có bạn vẫn đọc theo ngữ điệu giống như khi đọc các câu thơ khác trong bài. Theo em như thế có đúng không? Vì sao?
Bài 4: Những câu thơ sau đều có ít nhất hai cách đọc.Cách nào cũng thấy có vẻ đúng, nhưng nghĩ kĩ thì sẽ có một cách đọc đúng nhất. Hãy đọc và ngắt nhịp cho chính xác.
Một chiếc xe đạp băng vào bóng tối
(Xuân Diệu)
Càng nhìn ta lại càng say
(Tố Hữu)
Non cao tuổi vẫn chưa già
(Tản Đà)
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy
(Nguyễn Đình Thi)
 
Bài 5:
5.1/ Mở đầu bài thơ Hội Tây, Nguyễn Khuyến đã viết:
Kìa hội Thăng Bình tiếng pháo reô
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Chữ “kìa” trong câu thơ trên đã giúp nhà thơ diễn tả được điều gì?
5.2/ Đọc các câu thơ sau và trả lời các câu hỏi:
Thoắt trông lờn lợt màu da
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao
(Nguyễn Du)
Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta
(Nguyễn Khuyến)
a/ Có ý kiến cho rằng khi phân tích câu thơ trên của Nguyễn Du chỉ cần chú ý các chữ: “lờn lợt”“ăn  gì” là đủ. Ý kiến của em như thế nào?
b/ Có người nói trong câu thơ khóc Dương Khuê, Nguyễn Khuyến viết thừa một chữ “thôi” và có thể thay vào đó bằng chữ “mất”: Bác Dương thôi đã mất rồi. Ý kiến của em như thế nào?
Bài 6: Hãy tìm và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Chúng đem bom nghìn cân
Giội lên trang giấy trắng
Mỏng như một ánh trăng ngần
Hiền như lá mọc mùa xuân
Ôi từng trang giấy
Trong lòng anh, đập khẽ, đêm nay
Như bàn tay vẫy
Như bàn tay ròng ròng máu chảy.
(Chính Hữu)
Bài 7: Ca dao có câu:
+ Người sao một hẹn thì nên
Người sao chín hẹn thì quên cả mười
hoặc:
Chờ em đã tám hôm nay
Hôm qua là chín, hôm nay là mười
Biện pháp tu từ sử dụng trong 2 bài cao dao trên là biện pháp nào? Các biện pháp tu từ ấy đã giúp tác giả dân gian thể hiện được tâm trạng gì trong lòng nhân vật trữ tình? Hãy sưu tầm một số câu thơ có chứa biện pháp tu từ trên đây. Ví dụ:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ, mười mong một người
(Nguyễn Bính)
Nhà em cách bốn quả đồi
Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng…
(Nguyễn Bính)
 
Bài 8:
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai
(Nguyễn Khuyến)
Thái độ và tình cảm của nhà thơ trên là thái độ, tình cảm như thế nào? Biện pháp tu từ nào trong câu thơ đã giúp tác giả thể hiện được điều đó? Hãy phân tích để làm sáng tỏ.
 
Bài 9: Đọc các câu thơ sau:
Trong như tiếng hạc bay qua
đục như tiếng suối mới sa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
(Nguyễn Du)
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ đàn chim dáo dát bay.
(Nguyễn Đình Chiểu)
Ta đi tới, không thể gì chia cắt
Mục Nam Quan đến bãi Cà Mau
Trời ta chỉ một trên đầu
Bắc Nam liền một biển
Lòng ta không giới tuyến
Lòng ta chung một Cụ Hồ
Lòng ta chung một Thủ đô
Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam!
(Tố Hữu)
Trong các câu thơ trên, nhà thơ đã dùng biện pháp tu từ gì? Chúng có tác dụng như thế nào trong việc biểu hiện nội dung tư tưởng, tình cảm của nhà thơ?
 
Bài 10:Tìm hiểu đặc điểm hình thức nổi bật của thơ trữ tình thông qua thể lục bát:
 
THỀ NON NƯỚC
(Tản Đà, trong Thơ mới (1932-1945): Tác giả và tác phẩm, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 1999)
 
Nước non nặng một lời thề,
Nước đi, đi mãi, không về cùng non
Nhớ lời “nguyện nước thề non”
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời tây ngả bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non còn nhớ nướ, nước mà quên non.
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non còn nước hãy còn thề xưa.
Non cao đã biết hay chưa?
Nước đi ra biển lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non nhớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước không nguôi lời thề.
 
1/ Hãy chỉ ra các tiếng tạo ra vần trong mỗi cặp câu sáu tám của bài thơ.
2/ Nêu đặc điểm vị trí và âm thanh (cấu trúc ngữ âm) của các cặp từ hiệp vần với nhau. Xác định tên gọi cho kiểu hiệp vần trong bài thơ. Xác định cách gieo vần ở bài thơ này.
3/ Hãy xác định nhịp của từng câu thơ và nêu đặc điểm về lối ngắt nhịp của toàn bài thơ (cách ngắt nhịp phong phú, linh hoạt - ngắt nhịp xen kẽ, hỗn hợp). Cách ngắt nhịp như vậy có tác dụng như thế nào đối với hình thức diễn đạt của bài thơ?
4/ Bìa thơ là  lời tâm sự, bộc bạch của hai vế trong cặp quan hệ nước – non. Qua lời đối thoại đó, người đọc cảm  nhận được tình ảm gắn bó, thuỷ chung của nhân vật chữ tình. Vậy nhân vật chữ tình trong bài thơ là ai? Những biện pháp tu từ chủ yếu nào được tác giả sử dụng trong bài thơ? Biện pháp tu từ nào quan trọng nhất trong việc thể hiện tư tưởng tình cảm của tác giả?
5/ Tài năng sáng tạo nghệ thuật của Tản Đà trong việc vận dụng có kế thừa và phát triển hình tượng quen thuộc trong cao dao – dân ca thể hiện trong bài này như thế nào?
 
Bài 11: Tìm hiểu đặc điểm hình thức nổi bật của thơ trữ tình thông qua thể thaats ngôn bát cú Đường luật và thể thơ tứ tuyệt Đường luật:
+ Bài 1:                                    THU ĐIẾU
(Nguyễn Khuyến, trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập IV, NXB Văn học, Hà Nội, 1978)
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Songa biêc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
1/ Cấu trúc của bài thơ bát cú Đường luật có bốn phần: đề, thực, luận, kết. Em hãy xác định cấu trúc đề - thực - luận - kết trong bài thơ Thu điếu và nêu rõ nội dung chức năng từng phần.
2/ Trong thể thơ Đường luật, đối rất được coi trọng. Đối với thể thất ngôn bát cú, các câu trong mỗi phần Thực và Luận bắt buộc phải đối nhau. Hãy chỉ ra phép đối trong bài thơ này được thực hiện như thế nào? Phân tích tác dụng diễn đạt và biểu cảm của nghệ thuật đối trong bài thơ này.
3/ Thơ NGuyễn Khuyến được Xuân Diệu gọi là “những bức tranh về làng cảnh Việt Nam”. Những nét đặc trưng nào về nông thôn Việt Nam được phản ánh trong bài thơ này? Cảm hứng chủ đạo của Thu điếu là gì?
Bài 2: MỜI TRẦU
(Hồ Xuân Hương)
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng anh như lá, bạc như vôi.
4/ Cách sử dụng từ ngữ của Hồ Xuân Hương phần nào thể hiện được bản lĩnh của Bà Chúa Thơ Nôm. Đâu là những dấu hiệu hình thưc nghệ thuật mang màu sắc Hồ Xuân Hương trong bài thơ này?
          Hãy chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau (bố cục, nhịp điệu, phép đối, hình ảnh, dụng ý nghệ thuật…) của thơ tứ tuỵet Đương luật và thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Bài 12:
Tìm hiểu đặc điểm hình thức nổi bật của thơ trữ tình qua bài thơ “Tràng giang”:
TRÀNG GIANG
(Huy Cận, trong Thơ mới (1932 – 1945): Tác giả và tác phẩm, Tài liệu đã dẫn)
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song,
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niểm thân mật,
Lặng lẽ bờ xa tiếp bãi vàng.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dờn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
1/ Cũng là thể thất ngôn, nhưng bài thơ Tràng giang của Huy Cận có những khác biệt nào về hình thức cấu trúc so với  thể tứ tuyệt và thể thất ngôn bát cú Đương luật?
2/ Phân tích tác dụng biểu cảm của biện pháp đảo ngữ trong bài thơ “Tràng giang”?
3/ Hãy chỉ ra những biện pháp tu từ nổi bật của “Tranmg giang” và phân tích tác dụng của từng biện pháp đối với việc bộc lộ cảm xúc, tư tưởng của tác giả.
4/ Hãy phân tích tâm trạng nhà thơ được thể hiện trong bài thơ “Tràng giang”.
* * * * * * * * * * *
 
 
 
 
 

Tác giả bài viết: (Sưu tầm)

Nguồn tin: Ban giám hiệu:

 Từ khóa: Thơ trữ tình

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây